221
450
Bạn đọc - Pháp luật
bandocviet
/bandocviet/
839402
Từ ước mơ của Nguyễn Trường Tộ, ngẫm sự học ngày nay
1
Article
null
Từ ước mơ của Nguyễn Trường Tộ, ngẫm sự học ngày nay
,

Từ khi ta mất ba tỉnh Nam Kỳ đến khi quân Pháp chiếm Bắc Kỳ lần thứ nhất, triều đình nhà Nguyễn nhận được nhiều bản điều trần xin đổi mới của quần thần. Trong đó nổi bật nhất là của Nguyễn Trường Tộ (NTT). Một phần khá lớn trong những tác phẩm của mình, ông tâm huyết về vấn đề cải cách nền học vấn nước nhà. Như ông viết: “Học thuật mà không sáng tỏ thì phong tục ngày càng bại hoại, nhân tâm tiến dần đến chỗ phù hoa xảo trá”, “nhân tâm đã hỏng thì tìm cho được những kẻ có nhiệt tình đối với việc nghĩa là điều cũng khó lắm vậy”.(*)

Từ các nguyên lý mới về việc học, ông than phiền cái học thời nhà Nguyễn lúc đó, thầy dạy gì, trò học gì, đều là chuyện trên trời dưới đất, đó là cái lối học không thiết thực, học không ăn chung gì với hành. “Học như vậy thì bút trọc hết lông, môi ráo hết nước cũng không được gì. Cổ lai các nước trong thiên hạ chưa từng bao giờ có cái học hành như thế…”.

 

Ấy là kể chuyện xưa để dẫn vào chuyện nay. Mặc dù thời đại có cách nhau gần hai thế kỷ nhưng vấn đề chính vẫn giữ nguyên. Xoay quanh hai chữ “giáo dục”. Ai bi quan thì buồn rầu nhìn vào tương lai sự học nước ta bằng một màu xám xịt, ai lạc quan tếu thì hài lòng với con số thành tích của ngành hằng năm. Không như ngày xưa, chỉ mình NTT bơ vơ với bảng điều trần trước một ông vua Tự Đức không thức thời và triều đình nhà Nguyễn thối nát. Ngày nay, mỗi lời tâm huyết về giáo dục trên báo đài đều được mọi người trong xã hội chú ý lắng nghe.

 

Một sơ đồ được vẽ ra, con đường phát triển tương lai sẽ dựa vào nền lực tri thức. Vì thế, giáo dục trở thành quốc sách. Do đó, cần cải cách và hiện đại hóa nền giáo dục nước nhà. Tuy vậy, câu trả lời kết vẫn đang bỏ ngỏ: đổi mới giáo dục như thế nào về cả hai mặt hình thức và nội dung?

 

Là một người “ngoại đạo” tôi xin nhường câu trả lời chính cho các nhà kỵ trỉ giáo dục nước nhà. Ở đây, chỉ xin mạn phép bàn về một số vấn đề mà bản thân mình đã trải nghiệm qua, chủ yếu trọng tâm vào hai điểm:

 

Học và tự học

Trong thời đại ngày nay, không có gì được xem là đủ. Thế giới kiến thức thì mênh mông. Hiểu biết của một cá nhân như hạt muối bỏ biển. Đặc biệt, trong thời đại “số hóa” hay “tri thức hóa”, nhu cầu con người tiếp cận cái mới càng bức thiết hơn và con đường tiếp cận được rút ngắn đi nhiều lần. Vì lẽ đó, giáo dục đứng trước một bài toán khó. Đâu là thiếu, đâu là thừa trong một “thế giới phẳng” về kiến thức như hiện nay?

 

Giáo dục đứng trước một bài toán khó. Đâu là thiếu, đâu là thừa trong một “thế giới phẳng” về kiến thức như hiện nay?

 

Mọi người đều nhất trí rằng, năng lực trí tuệ của con người hình thành theo một quá trình “phi thụ động”, đó chính là chủ động tìm kiếm cho mình những cái cần qua cuộc sống, học và làm việc. Biến kiến thức chung được dạy trên ghế nhà trường thành một dạng tri thức mới phù hợp với nhu cầu thực tiễn mỗi người. Các phép biến hóa phải do cá nhân tự làm ra, tức là nắm lấy phần chủ động. Giống như nhân vật Tề Thiên trong truyện Tây Du. Bảy mươi hai phép thần thông là căn bản chính, từ đó sáng tạo không ngừng, biến hoá tùy hoàn cảnh mà trừng trị bọn yêu tinh.

 

Lý lẽ này ông NTT cũng từng bàn tới. Để tranh luận với các nhà nho thủ cựu, ông Tộ nhắc câu của Khổng Tử: “Anh thợ muốn làm việc tốt thì trước phải có khí cụ tốt”. Nhìn bằng con mắt ngày nay, khí cụ tốt phải bao gồm hai thứ: một là kiến thức nền căn bản, hai là phương pháp học.  

 

Kiến thức nền bao nhiêu là đủ, gồm những môn học nào, cần phải thêm bớt gì so với chương trình dạy hiện hành? Một câu hỏi nên được các nhà giáo dục nghiên cứu và thảo luận kỹ càng hơn. Xét về căn bản, kiến thức nền không nhất thiết phải nhiều về khối lượng, nhưng phải đảm bảo một lượng thông tin chung về tự nhiên, xã hội, đất nước, con người... trong thế giới hiện đại ngày nay.

 

Có lẽ, phương pháp học là vấn đề được nhiều người đặc biệt quan tâm. Tôi có nghe anh bạn sống và làm việc lâu năm ở ngoại quốc nói vui rằng: ta thường tự hào người Việt Nam cần cù chăm chỉ, nhưng hình như ít có phương pháp cụ thể. Trí thông minh thì mỗi người mỗi khác, khó mà truyền đạt, nhưng phương pháp thì khác. Nó là sự đúc kết từ nhiều cái đầu, qua nhiều thời điểm, được bổ sung và ngày càng hoàn thiện hơn. Các tập đoàn nước ngoài trước một dự án, bao giờ cũng bỏ rất nhiều thời gian để trình bày phương pháp luận mà họ sắp dùng. Đó là kim chỉ nam dẫn đường, lúc nào cũng phải rõ ràng và đến nơi đến chốn.

 

Đã có nhiều lời bàn về phương pháp dạy và học ở nước ta, nay tôi chỉ góp thêm mấy ý kiến ngắn. Lão Tử có dạy rằng: thay vì đưa người ta con cá thì hãy cho họ cái cần câu. Học sinh, sinh viên Việt Nam nói chung thường bị chê là thụ động bởi họ được chăm sóc quá kỹ, từ câu chữ, từ giọng hành văn. Từ đó, tạo ra một lớp “tri thức đồng phục” thụ động mà xã hội đang cực liệt lên án. Tôi xin mạo muội đề nghị: nên chăng, các nhà giáo dục nước nhà nghiên cứu đưa nhiều kiến thức có tính phương pháp hơn vào các môn học. Vấn đề này đa số nhiều nước bạn đi trước ta đã làm rồi. Họ dạy cho học sinh cách tư duy, cách suy nghĩ, cách tìm ra phương pháp. Có như thế mới hạn chế cách nghĩ “nhìn cây mà không thấy rừng” đang phổ biến. Những người chủ tương lai không phải chỉ cần cái có sẵn, họ còn cần hơn cái đang có hoặc cái chưa hình thành để làm tiền đề sáng tạo cho những tri thức mới về sau.

 

Vai trò của nhà nước

Một đất nước trong thời bình, muốn phát triển phải cần người tài, vì thế, giáo dục lúc nào cũng phải được xem như quốc sách. Đây là một chủ đề “xưa như trái đất”, được lặp đi lặp lại trên báo chí thường xuyên. Quốc sách thì không phải một hai cá nhân hay một hai tổ chức là có thể thành công. Cần một sự đồng thuận lớn mạnh từ xã hội mà nhà nước nên đóng vai trò người tiên phong dẫn đường.

 

Câu hỏi đặt ra: vai trò của nhà nước trong nhiệm vụ cải cách nền giáo dục là gì? Ta vừa sợ nông lại vừa sợ sâu. Nhà nước đứng chỉ đạo bên ngoài thì cải cách chưa đủ sức mạnh, các thiết chế thực hiện chính sách không bền, gây nên tình trạng luật trên đã ban nhưng bên dưới còn chưa thực hiện vì những lý do “đặc thù cơ sở”. Lúc nhà nước nhúng thêm tay vào thì có người than phiền là quá phụ thuộc và mất đi tính độc lập của địa phương.

 

Để làm rõ vấn đề, xin nhớ lại một câu nói của Bác: “Trước kia, việc gì cũng từ trên dội xuống. Từ nay, việc gì cũng phải từ dưới nhoi lên”. Cải cách giáo dục tương lai có thể sẽ mang những đặc thù của cuộc cải cách kinh tế sau Đổi mới: (i) Từ nhu cầu thay đổi hình thành nhiều đề xuất cải cách (ii) Ý tưởng xuất phát từ địa phương, do một cá nhân hay một đơn vị giáo dục xé rào làm thử ;(iii) Thành công, gây tiếng vang khiến cho lãnh đạo đưa vào nghiên cứu và áp dụng nhân rộng khắp nơi.

 

Đối chiếu sơ đồ trên, vai trò nhà nước ở khâu nào đều không kém phần quan trọng. Trong quản lý nhà nước phải sâu như thế nào để nắm bắt được phần lớn nguyện vọng của cơ sở địa phương. Chỉ mới manh nha ý tưởng mới thì nên khuyến khích động viên, không phải giữ cái thế người trên mà cái gì không đúng ý thì cứ từ trên mà dội xuống. Mặt khác, nếu đã chứng minh ý tưởng thành công ở cơ sở, phải tổ chức nghiên cứu thực tiễn xem có thể nhân rộng ý tưởng hoặc thay đổi ít nhiều sao cho phù hợp với từng trường hợp cụ thể.

 

Trước nay, chúng ta hay gặp vấn đề “cái từ trên dội xuống” còn quá mạnh, mà “cái từ dưới nhoi lên thì quá yếu”. Đó là nằm ở cả hai chiều nhà nước lẫn người dân. Nếu nhà nước đã thực hiện xã hội hóa giáo dục, tức là nhân dân và nhà nước cùng làm thì cả hai đều phải được giữ vai trò chủ thể của vấn đề cần giải quyết. Cần có sự dân chủ trong đối thoại, có sự đồng thuận trong cách giải quyết. Nói cách khác, nhà nước không chỉ sử dụng tiền của dân mà còn là ý kiến của dân. Thiết nghĩ, nếu đối thoại và đồng thuận, hai xu hướng thời đại đã xuất hiện trong hầu hết các cuộc tranh luận những vấn đề quyết sách, thì trong sự nghiệp đổi mới, nền giáo dục nước nhà cũng không là ngoại lệ.

 

Trong bài viết của mình, tôi đã nhiều lần đề cập đến câu chuyện xưa của ông NTT cùng bài học lịch sử: vua Tự Đức ếch ngồi đáy giếng, coi khinh cải cách, khư khư ôm lấy nho học ngàn năm nên triều Nguyễn vì thế mà suy tàn. Thời nay, chắc chắn không còn một NTT lẻ loi phải một mình tả xung hữu đột, cũng không có một Tự Đức quá ư bảo thủ. Hằng ngày, tôi vẫn thường bắt gặp những “NTT” của thế kỷ 21 xuất hiện trên từng trang báo, từng bài viết trăn trở ước mơ của mình cho nền giáo dục nước nhà và những “Tự Đức” sẵn sàng đối thoại để cùng đồng thuận. Có thể chỉ là những bước bắt đầu, nhưng “vạn sự khởi đầu nan”, tôi vẫn tin như vậy, cũng như niềm tin vào một nền giáo dục Việt Nam tươi sáng hơn trong tương lai.

 

06.09.2006

Nguyễn Chính Tâm, TP.HCM

 

(*): Các câu dẫn của Nguyễn Trường Tộ trích từ: Trần Văn Giàu, Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách Mạng Tháng Tám. Tập I: Hệ ý thức phong kiến và sự thất bại cùa nó trước các nhiệm vụ lịch sử.1996, NXB Chính trị quốc gia

 

Ý kiến của bạn?

,
Ý kiến của bạn
Ý kiến bạn đọc
,
,
,
,
,
,
,