221
447
Giáo dục
giaoduc
/giaoduc/
1158227
Nhà khoa học tử tế... mà cô đơn
1
Article
null
Nhà khoa học tử tế... mà cô đơn
,

 - Chỉ trong vòng ba năm kể từ ngày thành lập, nhóm nghiên cứu Vật lý tính toán do PGS-TS Võ Văn Hoàng, Trưởng phòng thí nghiệm Vật lý tính toán, khoa Khoa học ứng dụng, ĐH Bách khoa (BK) TP.HCM gây dựng đã công bố 38 bài báo khoa học trên nhiều tạp chí khoa học uy tín quốc tế, trong đó đa số đều do ông đứng chủ biên…  

 

PGS-TS Võ Văn Hoàng - ảnh: L.Quỳnh

Chỉ trong vòng ba năm kể từ ngày thành lập, nhóm nghiên cứu Vật lý tính toán do PGS-TS Võ Văn Hoàng, Trưởng phòng thí nghiệm Vật lý tính toán, khoa Khoa học ứng dụng, ĐH Bách khoa (BK) TP.HCM gây dựng đã công bố 38 bài báo khoa học trên nhiều tạp chí khoa học uy tín quốc tế, trong đó đa số đều do ông đứng chủ biên…

Tốt nghiệp Tiến sĩ (TS - Candidate) ngành Vật lý tính toán ở Nga năm 1991, về nước, chàng thanh niên Võ Văn Hoàng chọn làm việc tại ĐH Khoa học Tự nhiên TP.HCM. Nhưng rồi bị yêu cầu thẳng phải chuyển sang hướng Vật lý thực nghiệm, ông rơi vào hoàn cảnh gần như không có điều kiện và cơ hội làm việc. Giai đoạn đó, muốn làm khoa học (KH), ông phải im lặng qua Phân viện KH VN làm thêm.

Nhưng sau khi có vài bài báo đăng trên tạp chí KH trong nước, ông lại nhận ra: phải dựa vào chuẩn quốc tế! Nếu dựa vào chuẩn trong nước, ông sẽ quanh quẩn mãi trong “ao làng”.

Ông tìm đường kết nối ra thế giới bên ngoài.

Thời gian đầu, chỉ dừng lại ở những bài báo trên các tạp chí nhỏ, chưa phải dạng uy tín trên thế giới.

Nỗ lực từ hai bàn tay trắng
Năm 2004, cơ hội làm nghiên cứu sau TS (post-doc) tại ĐH Chungbuk, Hàn Quốc trở thành một bước ngoặt đối với ông. Ông tranh thủ mọi điều kiện để làm việc. Gần như 6 tháng không ra khỏi trung tâm thành phố, cập nhật và nâng cao thông tin, kiến thức mình tụt hậu, tìm hướng nghiên cứu mới “bung” ra…

Đầu năm 2006, sang ĐH Bách khoa TP.HCM, ông bắt đầu đặt viên gạch đầu tiên về lý tưởng một phòng thí nghiệm Vật lý tính toán (PTN VLTT).

Vậy là, sau 10 năm chật vật để ổn định cuộc sống kể từ ngày về nước, ông mới được thật sự "lao" vào cái nghiệp của mình: nghiên cứu khoa học (NCKH)!

Ban đầu, phòng chỉ có một mình ông. Đến năm 2007, chỉ có ba thầy trò cho một phòng nghiên cứu. Đến nay, phòng có 9 người.

PTN đơn sơ như một văn phòng: một tấm bảng trắng, mấy bàn làm việc kê dọc, một cái tủ nhỏ khiêm nhường và 8 chiếc máy tính (trong đó có hai chiếc do trường trang bị, một được tặng khi ra nước ngoài làm việc, còn lại đều do ông góp nhặt, bỏ tiền túi ra mua dần dần).

Phòng thí nghiệm đơn sơ như một văn phòng - ảnh: L.Quỳnh

Thực ra, nó được trưng dụng từ văn phòng của bộ môn Vật lý ứng dụng của khoa Khoa học ứng dụng.

Thông thường, trang bị cho một PTN VLTT quy mô nhỏ phải có khoảng 40 máy tính tốc độ cao nối mạng qua một hệ thống máy chủ (server) mạnh, cùng những trang thiết bị phụ trợ: máy in, laptop + projector… Nhưng đấy vẫn là ước mơ! Hiện ông và học trò vẫn phải… nhập nhờ vào hệ thống mạng của các nơi khác, thậm chí của cả đồng nghiệp nước ngoài để tính toán.

Vậy mà chỉ trong vòng ba năm, nhóm nghiên cứu do ông gây dựng đã công bố được 38 bài báo khoa học, với tổng IF (Impact Factor - chỉ số phản ánh mức độ tham chiếu của cộng đồng khoa học vào các bài báo) > 52, đăng trên nhiều tạp chí khoa học uy tín quốc tế: Physical Review B, E (Hội Vật lý Mỹ), European Physical Journal B, D (Hội Vật lý châu Âu)…

Nhà khoa học tử tế…

“Ấn tượng về số lượng”, đó là nhận xét của những người từng xem công trình KH công bố trên tạp chí quốc tế. Chẳng hạn năm 2007, có thể đếm đến 17 bài báo công bố trên các tạp chí khá uy tín của châu Âu và Mỹ. Nói như GS Vật lý Trần Thanh Minh: “Những bài báo đó cho thấy anh Hoàng là người làm KH nghiêm túc và tử tế!”.

Hoạt động KH sôi nổi ở nước ngoài, hiện ông đang là phản biện thường trực (regular referee) của các tạp chí: Non-Crystalline Solids (Mỹ), Nanotechnology (Anh quốc), Central European Journal of Physics (Hội Vật lý châu Âu); tham gia viết sách do Nhà xuất bản Nova Science Publishers.Inc, New York mời; được International Biographical Centre (Cambridge, England) trao tặng danh hiệu The Leading Scienctist of the World of 2007, 2008...
Anh Ngô Minh Toàn, làm post-doc ngành Vật lý sinh học tại ĐH Maryland, Mỹ, khâm phục: “đa số các bài báo được thực hiện ở trong nước, nên tôi nghĩ anh Hoàng đã làm việc rất nghiêm túc và cực kì có năng lực. Rất hiếm nhà nghiên cứu làm việc tại VN có thể làm được như vậy."

Ông được thầy mình, GS David K. Belashchenko, cây đại thụ trong lĩnh vực Vật lý chất lỏng và chất rắn có cấu trúc phi tinh thể, khoa Vật lý & Hóa học, Học viện Công nghệ Moscow (Moscow State Technological University - tiền thân là Trường Thép & Hợp kim Moscow, Nga), nhận xét là: “một nhà KH cẩn thận và chính xác”, với đa số bài báo trong thời gian qua của ông “đều cho thấy ông là người đi đầu trong lĩnh vực đó”.

Còn GS Matthieu Micoulaut, ĐH Universite Pierre et Marie (Paris, Pháp), đã đọc, nghiên cứu, tham dự nhiều hội thảo và trích dẫn nhiều bài báo của ông, cho biết: «Tôi nhận thấy chính sự tính toán và cân nhắc kĩ lưỡng trong các nghiên cứu, là sự tích góp được từ những kinh nghiệm trước đây, đã tạo nên những nghiên cứu thành công cho anh.”

Ở ba hướng nghiên cứu chính (Vật lý vật liệu tính toán, Vật lý nano tính toán và Vật lý thống kê tính toán) mà ông đã nhắm tới và mở dần ra trong vòng 3 năm qua cho PTN, có thể kể đến Vật lý nano tính toán: đi theo hướng nghiên cứu những hạt nano có cấu trúc vô định hình, phân bố nguyên tử hỗn độn. (Trước nay người ta chỉ làm hạt nano cấu trúc tinh thể, những nguyên tử phân bố ở những vị trí cố định trong không gian).

Đây là lĩnh vực mà nhóm nghiên cứu đi tiên phong, được các nhà KH trong ngành trên thế giới công nhận. Đến nay nhóm đã công bố hơn 19 bài báo về hướng này… Ông khẳng định: “Nếu đi được hết những định hướng này, công việc cho nhóm sẽ đủ đi trong 10 năm tới!”.


... mà cô đơn

Nói chuyện với ông, tình cờ biết ông mới nhận được 3 hồ sơ của người nước ngoài đề nghị qua VN làm việc và làm post-doc với ông. Vì họ nghĩ ông có một LAB lớn để làm việc.

Nhấn mạnh “hầu hết nhân lực trẻ trong nước có nền cơ bản đã yếu lại còn nhiễm cung cách làm việc thiếu tính chuyên nghiệp”, ông thẳng thắn: “…muốn bảo vệ TS, anh phải ít nhất có hai bài báo KH đăng trên tạp chí quốc tế. Nhưng chúng ta hiện không có đủ lượng giáo sư (GS) hướng dẫn TS đạt chuẩn quốc tế. Theo tôi, hiện nay chúng ta chỉ có 3-5% lượng GS đáp ứng nhu cầu này. Ít, nhưng chấp nhận ít, rồi chúng ta sẽ có nhiều. Để những GS không có khả năng xuống, dọn đường cho lớp trẻ đi lên…”.
Ông cười: “Tôi bảo họ là tôi sẵn sàng hướng dẫn, nhưng xin được tài trợ kinh phí để sống và làm việc ở đâu thì sang, chứ tôi thì không có tiền”.

Nói vậy là để “chặn đường” người ta, chứ ông buồn. Gần 20 năm làm việc trong nước, ông thú thật mình chỉ được chi tất cả hơn 300 triệu đồng cho NCKH…
Hai năm gần đây, người ta bắt đầu chú ý đến ông vì bài báo KH quốc tế... được quan tâm (!)

Hỏi “dường như thầy là nhà KH cô đơn”, ông dừng lại, ôm mặt thở dài: “Tôi rất muốn có SV vào để giao cho làm những hướng tôi thấy ở mức vừa vặn, nhưng không có nhiều người để giao. Bây giờ tôi sợ mình phải dạy các môn đại cương quá nhiều đến nỗi không nghiên cứu được…".

Tâm huyết và trăn trở với nền giáo dục nói chung, KH VN nói riêng, ông khẳng định: “Thật ra nếu thay đổi cách thức quản lý KH và cách làm KH hiện nay, với chính sách theo tiêu chuẩn quốc tế thì trong vòng chừng 5, 7 năm tới, KH mình phát triển rất mạnh. Tôi biết còn không ít anh em không thua kém gì đồng nghiệp quốc tế, vì lí do này, lí do nọ mà họ còn ở ẩn, chưa bật được đấy thôi".

Ông vẫn bảo: “Dù khó khăn cỡ nào, cũng quyết tâm đi tới đích”. Ông tin tưởng và chờ mong trái ngọt mình đã và đang trồng trong KH, mảnh đất đầy sáng tạo mà không ai có thể nói trước được điều gì sẽ đến ở thì tương lai… 

“Học trò cứng cáp rồi, tôi đưa các em đi ngay!”

Từ một góc phòng thí nghiệm đơn sơ thế này, PGS-TS Võ Văn Hoàng mong ước đưa học trò đi thật xa! - ảnh: L.Quỳnh

PGS-TS Hoàng nặng lòng với nghiên cứu, đau đáu với đào tạo người. Có lẽ vì vậy, không khó hiểu khi người ta kể rằng: ông không chỉ khắt khe với chính mình, mà còn đòi hỏi rất cao với các học trò.

SV được tuyển chọn vào PTN từ năm 3, vào là được rèn ngay tức khắc: trình độ tiếng Anh được nâng lên 100% bằng những buổi họp nhóm nghiên cứu theo chuyên đề (seminar) hoàn toàn bằng tiếng Anh; đưa SV tham gia các hội nghị khoa học trong nước, quốc tế; mạnh dạn cho SV tham gia viết bài báo đăng trên tạp chí quốc tế;…

Học trò đủ cứng cáp rồi, thường là ra trường được 1 - 2 năm, ông chủ trương đưa toàn bộ đi học nước ngoài, làm nghiên cứu sinh, post–doc bằng chính những suất học bổng do các em tự kiếm được. Để học trò đủ trưởng thành về mọi mặt, nhất là khả năng nghiên cứu KH độc lập. Ông mong "sau này các em trở về, đủ lực tách nhóm, mở nhóm mới, trên cơ sở bình đẳng, hợp tác..."

  • Lê Quỳnh
,
Ý kiến của bạn
Ý kiến bạn đọc
,
,
,
,