221
447
Giáo dục
giaoduc
/giaoduc/
183193
"Tin ở chính mình là bí quyết thành công"
1
Article
null
Trợ giảng người Việt tại ĐH Mỹ tuổi 28:
'Tin ở chính mình là bí quyết thành công'
,

(VietNamNet) - Trở thành Giáo sư ĐH nổi tiếng của Mỹ - ĐHIllinois - ở tuổi 28, Đỗ Minh lần này về Việt Nam trong chương trình "Nhịp cầu du học" của quỹ học bổng VEF. Trong 2 tuần làm việc kín đặc lịch, chưa kịp về Thanh Hóa thăm gia đình, Đỗ Minh vẫn dành cho VietNamNet hơn 1 giờ đồng hồ trò chuyện về đường tới Illinois.

Đỗ Minh sinh năm 1974 tại Thanh Hóa. Tốt nghiệp kỹ sư máy tính tại ĐH Canberra, Australia năm 1997 và nhận bằng tiến sĩ ngành hệ thống thông tin tại Học viện kỹ thuật quốc gia Thụy Sĩ Lausanne năm 2001. Từ năm 2002, anh là giáo sư tại khoa Điện tử và máy tính, ĐH Illinois, thuộc khu ĐH Urbnana của Mỹ.

Năm 1991, anh nhận được Huy chương bạc kỳ thi Olympic Toán quốc tế lần thứ 32. Năm 1997 nhận huy chương của ĐH Canberra. Năm 2001 nhận giải thưởng đề tài tiến sĩ xuất sắc nhất tại Học viện Lausanne, Thụy Sĩ. Năm 2003, nhận giải CAREER của quỹ Khoa học quốc gia Hoa Kỳ.

Thông tin tham khảo: www.ifp.uiuc.edu/~minhdo/

 

"Xé rào" thông lệ tuyển giáo sư của ĐH Mỹ

- Chào anh, trước khi trở thành giáo sư tại trường ĐH ở Mỹ, anh đã từng tu nghiệp ở những đâu?

- Năm 1991, tôi học tại ĐH Tổng hợp Hà Nội. Giữa năm sau đó, tôi nhận học bổng của AusAid và sang học 4 năm ĐH ngành máy tính tại Australia. Đến năm thứ 4 ĐH, tôi tìm được một suất học bổng nghiên cứu sinh Học viện quốc gia kỹ thuật của Thụy Sĩ.

-Anh tìm kiếm suất học bổng ấy như thế nào?

- Nếu nói về bí quyết thì tôi chỉ có thể nói là kiên trì và quyết tâm. Từ năm cuối, tôi đã có ý định sẽ theo học tiếp nghiên cứu sinh. Hồi đó, tôi hay vào trang thông tin của hội sinh viên Việt Nam và tìm được học bổng nghiên cứu sinh tại Thụy Sĩ. Thực ra, quyết định sang Thụy Sĩ làm nghiên cứu sinh cũng khá mạo hiểm vì tôi cũng đã có chỗ để tiếp tục theo học tại Australia. Vả lại, tôi cứ nghĩ ở Thụy Sĩ dùng tiếng Pháp trong khi mình không rành lắm về thứ ngôn ngữ này. Hơn nữa, suất học bổng này chỉ có thời hạn 1 năm. Nhưng khi tìm hiểu, tôi được biết họ có chương trình đào tạo bằng tiếng Anh. Một lần, chị bạn học cùng bảo: Nếu ở Australia, đi thêm 300km nữa bạn cũng mới chỉ đến Sidney, vẫn là nước Australia. Trong khi đó, sang Thụy Sĩ, đi thêm 300km, bạn có thể đến thăm toàn châu Âu. Và tôi quyết định làm nghiên cứu sinh tại đó với sự hướng dẫn của ông thầy rất nổi tiếng là Giáo sư Vetterli. Khóa học này có 18 học viên và tôi là người châu Á duy nhất. Hết thời hạn học bổng 1 năm, tôi cùng một cô bạn người Bỉ nữa trong lớp nhận tiếp học bổng của khoa để hoàn thành chương trình nghiên cứu sinh.

- Vậy làm thế nào anh "lọt" vào cửa trường ĐH nổi tiếng của Mỹ để thành giáo sư khi mà anh chỉ tu nghiệp tại Australia và châu Âu, những nơi mà người Mỹ thường không đánh giá cao lắm trong cái nhìn của họ?

- Hồi đang làm nghiên cứu sinh tiến sĩ năm thứ nhất tại Thụy Sĩ, tôi được sang Mỹ dự hội nghị khoa học. Đó là lần đầu tiên tôi đi dự hội nghị quốc tế và những ấn tượng về hội nghị này vẫn còn rất mạnh trong tôi. Khác với hình ảnh kinh điển tôi thường thấy: thường thì các vị giáo sư già bao giờ cũng quen được những nghiên cứu trẻ ngưỡng vọng, tại hội nghị này, tôi thấy, có một anh chàng người Ấn Độ còn trẻ lắm, nói tiếng Anh thậm chí còn chưa lưu loát nhưng phần trình bày của anh ta được các giáo sư ngồi dưới lắng nghe rất chăm chú và tỏ ý khâm phục. Tôi nhận ra, đây sẽ là cơ hội nghiên cứu rất tốt cho sự nghiệp khoa học của mình và nuôi ý định sang Mỹ tiếp tục làm khoa học. Thời gian cuối khóa làm nghiên cứu sinh, tôi nộp đơn vào khá nhiều trường ĐH ở Mỹ. Hồi cuối năm 2001, khi sang Mỹ dự hội nghị, tôi nhận được điện thoại của của khoa Điện tử và Máy tính, ĐH Illinois. Khi đến, có 13 giáo sư của khoa đã phỏng vấn tôi trong 2 ngày. Sau đó tôi trở về Thụy Sĩ. Hai tháng sau thì nhận được tin mình được mời làm giáo sư của trường.

- Buổi phỏng vấn 2 ngày của anh có gì đặc biệt? Các giáo sư đã hỏi anh những gì? Anh có "thủ thuật" trả lời phỏng vấn gì không để giành "chiến thắng"?

- Người ta hỏi tôi rất nhiều về kiến thức chuyên môn, đương nhiên. Ngoài ra, buổi phỏng vấn đó còn là cách kiểm tra xem liệu ứng viên có phải là người có phong cách làm khoa học không, có làm cộng sự và hòa hợp với môi trường mới hay không. Còn "thủ thuật" ư (cười), không có đâu. Bí quyết ư, "just be yourself" (tự mình thôi).

- Thường thì ở các trường ĐH danh tiếng của Mỹ, một người được tiếp nhận làm giáo sư sau khi anh ta làm nghiên cứu sinh sau tiến sĩ chứ hiếm khi chọn ngay người vừa làm tiến sĩ xong mà lại không phải tại trường ĐH nước họ. Vậy cảm giác của anh khi "xé rào" thông lệ tuyển giáo sư của Illinois như thế nào?

- Hồi được gọi tới phỏng vấn, tôi nghĩ chắc có giáo sư nào đó trong trường chọn mình làm post-doctor (nghiên cứu sinh sau tiến sĩ) với họ chăng, như thế cũng là hạnh phúc lắm bởi tôi luôn mong muốn có một môi trường nghiên cứu tốt. Xin nói thêm là, ĐH Illinois đứng thứ 3 trong các trường ĐH của Mỹ về ngành nghiên cứu của tôi và trường này có nhiều giáo sư, sinh viên từng đạt giải Nobel. Lúc nhận được tin mình là giáo sư của Illinois, tôi cảm thấy: "Viện Hàn Lâm quốc gia Mỹ rất gần với mình rồi". Đúng là ở Mỹ, mỗi năm các trường có tuyển chọn giáo sư, thường là từ những người làm xong nghiên cứu sinh tại ĐH đó. Giáo sư hướng dẫn nghiên cứu sinh của tôi, thầy Vetterli, cũng vậy.

Nghiên cứu khoa học phải "sát sườn" với thực tiễn

- Anh nghiên cứu về khoa học gì vậy?

- Tôi nghiên cứu về hướng phát triển của wavelets trong không gian đa chiều. Thực ra, khi tôi tiếp cận vấn đề này, người ta nghĩ những vấn đề về wavelets đã được giải quyết hết, nhưng không phải như vậy. Khi tôi chuyển sang hướng nghiên cứu này, vấn đề wavelets trong không gian đa chiều cũng được rất nhiều người quan tâm. Hiểu một cách đơn giản, nghiên cứu của tôi liên quan đến việc xử lý các hình ảnh trực quan, tìm phương pháp để nén ảnh cho tốt... Nghiên cứu này có tính ứng dụng rất cao. Hiện nay, vấn đề mà tôi đang nghiên cứu là một trong những ngành công nghệ mang lại hàng chục tỷ USD của Mỹ.

- Anh từng đạt giải Nhì Olympic Toán học quốc tế khi là học sinh lớp 12 chuyên Toán trường PTTH Lam Sơn. Nhiều học sinh đạt giải này thường có xu hướng đi theo con đường làm khoa học cơ bản, chẳng hạn như nghiên cứu Toán lý thuyết. Tại sao anh chọn ngành máy tính khi học tại Australia?

 - Năm 1991, tôi chỉ biết đến chiếc máy tính qua hình ảnh bìa của một tờ tạp chí. Khi đó, chiếc máy tính có ấn tượng rất mạnh với tôi vì tôi luôn có ý nghĩ: mình sẽ làm khoa học, nhưng phải là khoa học được ứng dụng và có tính thực tiễn cao. Có lẽ vì vậy mà tôi đã chọn ngành này khi đi học ở Australia. Thế nhưng, khi học rồi, tôi lại không "khoái" lắm vì thấy ngành ứng dụng thuần túy mà không có liên hệ gì với khoa học chính xác thì sẽ không "bền". Chú trọng đến thực tiễn, đó là quan niệm làm khoa học của tôi. Tôi nghĩ rằng, mình nên chọn nghiên cứu vấn đề không chỉ phù hợp với khả năng mà còn có ảnh hưởng thực sự tới đời sống. Hay nhất là kết hợp nghiên cứu giữa lý thuyết và ứng dụng. Từ lý thuyết của khoa học chính xác đem ứng dụng vào thực tiễn, rồi từ nghiên cứu thực tiễn lại phát triển lý thuyết lên cao hơn.  Và đó cũng là lý do tôi chuyển ngành khi làm nghiên cứu sinh.

- Anh chuyển hướng như thế nào vậy?

- Tôi nhận thấy, nếu chỉ nghiên cứu trong một chuyên ngành hẹp thì rất khó, vì hầu như mọi vấn đề đều đã được giải quyết hết rồi. Muốn có sự sáng tạo, độc đáo và khám phá thực sự, thì hướng nghiên cứu mới phải là phối hợp giữa các ngành khác nhau. Chẳng hạn, như nghiên cứu của tôi là kết hợp giữa Toán và Xử lý tín hiệu. Nếu được phép có lời khuyên nào về nghiên cứu, tôi thấy lý thú nhất và có tương lai hơn cả là hãy khám phá bí ẩn của các đường viền khác nhau giữa các ngành khoa học. Một điều tôi muốn nói thêm là, trong khoa học, không có đột phá nào được tìm ra một cách đơn giản. Và anh thực sự chỉ có đột phá nếu có cái gì đó hơn hẳn.

- Anh có nói muốn đột phá thì phải có yếu tố nổi trội. Vậy anh thấy mình có những gì "hơn hẳn" để có được những thành công như hiện nay?

- Tôi chỉ nghĩ mình làm việc gì cũng phải tự tin. Tôi tin vào kiến thức và tư duy toán học của mình. Dự các hội nghị khoa học quốc tế, tôi luôn thấy tự tin. Người Việt mình đi làm nghiên cứu ở nước ngoài, làm toán rất khá. Hồi chuyển từ Australia sang Thụy Sĩ làm nghiên cứu sinh, tôi khá vất vả trong thời gian đầu. Lý do là khi học ĐH ở Australia, tôi ít dịp dùng tới khoa học chính xác là Toán học. Các giờ lên lớp môn này, tôi thấy thua xa bạn bè. Sau đó, tôi dốc sức "khôi phục" lại kiến thức và tư duy toán học của mình, điều này được rèn từ khi tôi học hồi phổ thông ở Việt Nam. Hai tháng sau thì tôi không còn sợ mình bị tụt hậu nữa.

- Có vẻ như anh thường có thói quen đúc kết kinh nghiệm từ công việc cụ thể của mình. Anh có làm việc theo phương châm nào không?

- Tôi rất thích bí quyết của một nhà khoa học nổi tiếng tên là Fayman. Ông ấy có nói, lúc nào trong đầu mình cũng suy nghĩ khoảng 10 vấn đề. Đi dự hội nghị, hội thảo khoa học hoặc tiến hành một công việc gì đó, thế nào cũng bắt gặp một tình huống liên quan tới 1 trong 10 vấn đề đang chứa ở đầu mình và đó sẽ là hoàn cảnh nảy sinh hướng giải quyết mà mình chưa tìm ra. Có lẽ vì thế, khi hướng dẫn các sinh viên làm nghiên cứu sinh, tôi không bắt làm một đề tài, mà tốt hơn cứ tiến hành song song một lúc vài đề tài, sẽ kết hợp và bổ trợ cho nhau. Nếu cứ theo mãi một thứ và quá tập trung vào nó mà không tìm được hướng giải quyết thì cách làm này sẽ kích thích sáng tạo nhiều hơn.

Sinh viên Việt Nam được dạy để "giải bài tập"

- Trở thành giáo sư ở tuổi còn khá trẻ, anh có thấy áp lực nào không?

- Làm giáo sư ở ĐH Mỹ, tôi có cảm giác như làm "ông chủ nhỏ" vậy. Tức là mình phải lo kinh phí cho các nghiên cứu sinh của mình và đóng góp kinh phí cho khoa nữa. Ở Mỹ người ta ra hạn "thử thách" cho giáo sư trong vòng 6 năm rồi mới cho vào "chính thức". Sau 6 năm, các giáo sư gạo cội của trường sẽ có những đánh giá về quá trình nghiên cứu của mình, sự đóng góp cho khoa... Nói một cách đơn giản là giáo sư phải xoay ra tiền để làm khoa học. Họ có quỹ "Career" dành cho những người có khả năng làm nên những đột phá trong lĩnh vực khoa học. Năm ngoái, tôi đã nộp đơn và xin được 400.000 USD từ quỹ này để có kinh phí làm nghiên cứu và "nuôi" các nghiên cứu sinh. Thường thì có khoảng 10 người đến xin và có 2 hoặc 3 người được chấp nhận.

- Về Việt Nam lần này công việc của anh là tham gia giảng dạy tại một số trường ĐH và phỏng vấn các ứng viên cho chương trình học bổng của quỹ VEF. Tiếp xúc với sinh viên Việt Nam, anh có nhận xét gì?

- Tôi đã tới giảng tại ĐH Bách khoa TP.HCM, Viện Công nghệ thông tin và tham gia phỏng vấn các ứng viên. Không chỉ tôi mà các giáo sư người Mỹ đến Việt Nam lần này đều có cảm nhận sinh viên mình vẫn có độ vênh khá rõ giữa việc học lý thuyết và thực hành. Một điểm khác nữa là các bạn chỉ trả lời tốt những câu hỏi cụ thể, chi tiết nhưng lại yếu về khả năng liên kết, tổng hợp. Một ví dụ cụ thể là, khi hỏi "trong cấu trúc vật liệu thì lý thuyết toán ở đâu", các em trả lời "không biết". Nếu hỏi "nêu định luật A, B, C" gì đó thì các bạn trả lời được. Nhưng hỏi "Nói ra một định luật Toán học thú vị nhất mà bạn đã học" thì không ít người lúng túng. Việc này, tôi nghĩ do cách đào tạo của ta.

- Cách đào tạo ấy có gì khác biệt vậy?

- Dường như các em được đào tạo để "giải bài tập" hơn là làm nghiên cứu. Các em trả lời tốt những câu hỏi cụ thể theo kiểu "trả bài", một hình thức học không phải sáng tạo. Làm nghiên cứu khác với giải một bài toán. Giải bài toán tức là bài toán đấy thế nào cũng có đáp số và chỉ tìm cách đến đáp số ấy. Nhưng làm nghiên cứu thì khác. Không biết có kết quả hay không, chỉ xác định phương hướng và trên con đường ấy tự mình tìm tòi, tự mình tìm thấy đích. Khi phỏng vấn những ứng viên cho VEF, tôi thấy những người có khả năng hơn cả là họ có được tiếp xúc với nền giáo dục nước ngoài, chẳng hạn những người đã theo học tại AIT. Họ trả lời tốt những câu hỏi có tính tư duy.

- Bây giờ anh đang định cư tại Mỹ?

- Tôi công tác thôi. Tôi dự định khoảng 6 đến 10 năm nữa sẽ trở về Việt Nam tham gia giảng dạy. Vì khoảng 10 năm nữa có lẽ cũng là "giới hạn cuối" của việc làm nghiên cứu rồi.

- Tò mò một chút về chuyện gia đình của anh?

- Hiện nay tôi đã có 2 cháu nhỏ. Vợ tôi là người Hà Nội và hiện đang ở nhà chăm sóc con cái và giúp đỡ tôi trong công việc.

- Có vẻ như khá bất ngờ đấy, vì anh mới 30 tuổi mà. Trong khoảng thời gian không dài ấy, có bí quyết gì để anh làm trọn cả việc công, tư như vậy?

- Tôi quan niệm đơn giản thôi, làm cái gì càng sớm càng tốt, xong sớm sẽ nghỉ sớm mà.

- Cảm ơn anh về cuộc trò chuyện thú vị này. Chúc anh đạt được nhiều thành công mới.

  • Hạ Anh (thực hiện)

,
Ý kiến của bạn
Ý kiến bạn đọc
,
,
,
,