,
221
781
Ký sự nhân vật
nhanvat
/psks/nhanvat/
430946
Ông Đoàn Duy Thành - người bước cùng thời gian
1
Article
1661
Phóng sự điều tra
psks
/psks/
,

Ông Đoàn Duy Thành - người bước cùng thời gian

Cập nhật lúc 18:58, Thứ Sáu, 28/05/2004 (GMT+7)
,

(VietNamNet) - Tôi biết ông Đoàn Duy Thành đã hơn một phần tư thế kỷ. Hồi đó, ông còn làm Bí thư Thành uỷ Hải Phòng, còn tôi, là một sinh viên mới từ nhà quê lên tỉnh, học ở trường Đại học Hàng hải, cạnh Cầu Rào. Ấn tượng của tôi về ông lúc đó là một vị “thị trưởng” cao to, đẹp trai, xông xáo và tân tiến... Khi người ta còn coi "con buôn" như một tội đồ thì ông không ngần ngại công nhận: "phi thương bất phú".

 

Ông Đoàn Duy Thành

...Ông đội mũ cối, mặc áo sơ mi bỏ ngoài, quần xắn cao, chân lội bùn dẫn đầu đoàn cán bộ của thành phố đi thăm công trình trọng điểm của Hải Phòng là đường xuyên đảo Đình Vũ. Một công trình đồ sộ, huy động hàng chục ngàn nhân công tham gia. Lũ sinh viên chúng tôi được huy động lao động công ích cho công trình ấy. Ông đến từng đơn vị, dừng lại trò chuỵên hỏi han cánh sinh viên rất thân mật, gần gũi.

Hải Phòng lúc bấy giờ nổi lên như một trung tâm kinh tế lớn của cả nước với chợ Sắt, nơi phát tích của hầu hết các loại hàng hoá quý hiếm, đội tàu VOSCO với những anh chàng thuỷ thủ viễn dương dùng đồ ngoại niềm ao ước của bao thiếu nữ xinh đẹp. Còn ông Thành hồi đó nổi tiếng với câu nói: "Phi thương bất phú". Ngày nay câu nói đó đã trở nên quen thuộc. Còn vào thời đó, chuyện buôn bán được coi là tên tội đồ của chủ nghĩa xã hội, cổ suý cho "con buôn" chẳng khác nào tuyên truyền cho chủ nghĩa tư bản. Vào "ngữ cảnh" như thế thì câu “Phi thương bất phú” được phát ra từ một vị bí thư Thành uỷ khác nào một tia chớp giữa trời quang mây tạnh.

Đi về cơ sở, đến đâu vị Bí thư thành uỷ cũng khích lệ chuyện làm giàu. Ông nói: "làm giàu cho mình, cho cơ quan, cho địa phương, tức làm giàu cho đất nước". Ý thức làm giàu trong ông thường trực và mạnh mẽ, không né tránh. Cũng chính vì tính cách đó, mà nhiều người bàn tán, coi ông là thành phần “thân tư bản”.

Sau này, khi ông đã về Hà Nội làm Bộ trưởng Bộ Ngoại thương, rồi Phó Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng, qua các phương tiện thông tin đại chúng, tôi biết ông qua những bài viết của các đồng nghiệp, về những việc ông đã làm được cho Hải Phòng, cho ngành ngoại thương Việt Nam vào những thời kỳ đen tối nhất của nền kinh tế. Ông là người vượt qua nghiệp chướng mà ông Kim Ngọc đã gánh chịu ở Vĩnh Phúc trước đó, áp dụng chính sách khoán sản phẩm đầu tiên ở Kiến An và đấu tranh để đưa nó thành một chính sách được áp dụng rộng rãi trong cả nước. Ông cũng là người kiên quyết xoá bỏ chế độ tem phiếu, tiền tệ hoá các chế độ cho cán bộ nhà nước.

Khi ông xin từ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về làm Viện trưởng Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương rồi về làm Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam. Lúc đó, ông nổi lên như một nhà kinh tế có tư tưởng cải cách từ rất sớm với những quyết sách mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt. Quan điểm giải phóng mọi nguồn lực, khuyến khích kinh tế ngoài quốc doanh, cụ thể hoá chính sách đó bằng Luật doanh nghiệp… những chính sách đó nay đang phát huy hiệu quả, dẫu là kẻ bất đồng chính kiến với ông cũng không thể phủ nhận.

Những tưởng ông chỉ là con người của thời hiện đại nhưng khi đến thăm ông tại nhà riêng, số 216 đường Đội Cấn, ông đã làm cho tôi đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác.

 Trong phòng khách, ông trưng bày khá nhiều hoành phi, câu đối bằng chữ Hán, và cả những bài thơ của Lý Bạch.

Tôi hỏi: "Bác cũng biết chữ Hán?". " Tôi được học từ thuở còn bé. Thầy dạy chính là bố tôi, một đồ nho nổi tiếng cả một vùng". Rồi ông đọc: “Phàm nhất đại hữu nhất đại chi văn học, Sở chi tao, Hán chi Phú, Lục triều chi biền ngữ, Đường chi thi, Tống chi từ, Nguyên chi khúc giai sở vị nhất đại chi văn học, nhi hậu thế mạc năng kế yên giả” (tạm dịch là: Phàm ở thời nào có văn học thời ấy; tao của Sở, phú của Hán, biền ngữ của Lục Triều, thơ Đường, từ Tống, khúc Nguyên đều đáng gọi là văn học của một thời mà đời sau khó lòng noi theo).

 Sinh ra trong một gia đình nho giáo, vốn thông minh, Đoàn Duy Thành nhanh chóng nắm bắt được lượng kiến thức Hán học từ người cha. Lớn lên, lại học tiếng Anh, tiếng Pháp để giao dịch. “Vốn Hán học ít dùng nên rơi vãi nhiều, nay mới có điều kiện khôi phục lại, còn tiếng Anh, tiếng Pháp thì khá hơn”. Thế nhưng, khi nghe ông đọc những bài thơ chữ Hán, tôi thán phục vì sự thông tuệ của ông.

... Năm 12 tuổi (1942) Đoàn Duy Thành đã phải chứng kiến cảnh sa sút của gia đình. Trong một cam kết gán nợ do thua bạc, bố ông đã để mất trắng 3 mẫu ruộng. Gia đình lâm vào cảnh khó khăn, phải bươn chải kiếm sống. Năm 1945, mới 16 tuổi, ông lại chứng kiến thêm nạn đói khủng khiếp cướp mất 2 triệu đồng bào. Trông thấy cảnh thương tâm của những em bé sơ sinh vừa ngậm vú mẹ vừa lả đi không cất nổi tiếng khóc vì mẹ em đã chết  đói. Sau này mỗi lần nhắc lại cảnh ấy Đoàn Duy Thành đã không cầm nổi nước mắt. Trong những năm sau đó, nhiều người đã chết một cách oan uổng vì thiếu ăn, thiếu tiền chữa bệnh. Nghèo đói đã làm suy yếu đi cả một dân tộc. Sự đói khổ của nhiều người dân đã ám ảnh và day dứt ông nhiều đêm.

 ... Năm 1946, mới 17 tuổi, Đoàn Duy Thành đã làm bí thư chi bộ và chỉ huy trận đánh đồn Lai Vu ở quê nhà. (Cũng vì thành tích này, vừa qua xã Cộng Hoà (Kim Thành, Hải Dương) quê ông mới được đón nhận danh hiệu xã anh hùng). Trong những năm 1950, 1951, khi đang hoạt động ở Hải Phòng, ông đã bị địch bắt.Tháng 10 năm 1952, ông cùng với 135 tù chính trị khác bị đày ra Côn Đảo. Trí thông minh, sự kiên định và gan góc của ông đã được đồng đội tín nhiệm, ông được bầu làm Bí thư Chi bộ đoàn tù. Tháng 10 năm sau, trong cuộc trao trả tù binh ốm nặng, ông được trả tự do. Đây là một trong những căn nguyên của các bi kịch sau này mà ông phải gánh chịu. (Đã có khi, vài kẻ xấu đã tung tin rằng ông là gián điệp quốc tế! Cùng với những tư duy kinh tế táo bạo, tin đồn kia khiến nhiều năm trời, ông phải sống trong áp lực của dư luận. Phải nhiều năm sau, một đồng chí lãnh đạo cao cấp thông qua một cuộc đối thoại công khai mới thanh minh được cho ông).

Là một chiến sỹ cách mạng lão thành, giỏi chữ Hán, nhiều người nghĩ rằng, ông là con người của quá khứ, con người của kinh nghiệm và trận mạc. Thế nhưng, gần đây, nhiều nhà kinh tế đã biết được Đoàn Duy Thành là người "đi trước thời gian". 

 Năm 1986, mất mùa liên tiếp, ta tự cô lập với thế giới bên ngoài, hàng hoá khan hiếm, lạm phát phi mã tới 780% năm. Nền kinh tế đất nước đang đứng trên bờ vực thẳm. Để kiềm chế lạm phát, các chuyên gia của WB và IMF dự kiến, Việt Nam cần phải có 1,7- 3 tỷ USD. Tại thời điểm đó, số tiền vài tỷ đô là vượt quá khả năng của nền kinh tế. Trên cương vị là Bộ trưởng Ngoại thương, ông đã cho nhập khẩu 160 tấn vàng. Sau này, nhiều người đã kể lại câu chuyện này như một huyền thoại. "Cơ sở nào để ông có được những quyết định quan trọng đó?"

Ông cho biết: Trong những năm 1969- 1972, khi học ở Trường Nguyễn Ái Quốc (nay là Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh), ngoài bộ tư bản của Marx, ông còn đọc nhiều tác phẩm của các nhà kinh tế học phương tây như: Adam Smith, Recardo, Keynes. Đặc biệt, Keynes là một nhà khoa học trong lĩnh vực tiền tệ. Từ những cơ sở lý luận đó, vận dụng vào Việt Nam ở thời điểm đó ông cho rằng, muốn kiềm chế lạm phát, phải tạo thêm lượng hàng hoá cho lưu thông, thêm nữa nhà nước phải có nguồn lực để can thiệp vào thị trường. Trong khi giá vàng thế giới chỉ tương đương với 1,4 triệu đồng/cây thì giá vàng trong nước đang ở mức hơn 4 triệu đồng. Nhập khẩu vàng vừa thu lợi cho ngân sách vừa góp phần làm giảm sự khan hiếm hàng hoá. Đây là một giải pháp có tính khả thi.

Trong cuộc họp của Bộ Chính trị bàn về kinh tế cuối năm 1987, Đoàn Duy Thành đã trình bày phương án kiềm chế lạm phát trong đó có việc cho nhập khẩu vàng bán lấy chênh lệch, giải quyết lạm phát. Giải pháp này lúc đó đã không được chấp nhận vì: “vàng chưa cần bằng lương thực…”.  Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh không phản đối nhưng cũng không kết luận kiến nghị của ông. Giờ giải lao, ông trao đổi với Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng, sau khi thuyết phục được Chủ tịch Phạm Hùng, ông gặp đồng chí Nguyễn Văn Linh. Ông đã thuyết phục được Tổng bí thư đồng ý. Trong vòng 2 năm, các đầu mối ở Hà Nội, Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh đã nhập khẩu vàng với số lượng 160 tấn, quả là một con số ít ai có thể hình dung được. Nhờ những chính sách linh hoạt như vậy, đến năm 1990, mức lạm phát chỉ còn 67%, giảm hơn 10 lần… 

Là một trong số ít những nhà lãnh đạo đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm của nền kinh tế, thực tiễn rất phong phú nhưng ông rất coi trọng lý luận. Ông cho rằng, không có lý luận như người mù đi trong đêm, mò mẫm, thiếu định hướng không thể tiến nhanh tới đích. Tuy nhiên, hiểu lý luận một cách thấu đáo với đầy đủ bản chất khoa học mới là điều khó. Đã nhiều lần, ông đề nghị với Bộ Chính trị là sau gần 20 năm đổi mới, nên sớm tổng kết thực tiễn của nền kinh tế thị trường. Đâu là thành tựu, đâu là thất bại cần phải có kết luận rõ ràng, đâu là khuyết điểm cần phải né tránh. Cần phải có một hoạch định dài hạn cho nhiều năm sau.

Trong quản lý kinh tế, ông tâm đắc nhất câu nói của Khổng tử: “Nhân dục vô nhai” (tham vọng của con người là không có giới hạn) làm thế nào để biến tham vọng của mỗi người thành động lực lao động, sáng tạo, là việc mà người quản lý phải làm. Khi mọi nguồn lực được giải phóng sẽ tạo ra một động lực lớn để tăng trưởng kinh tế, đây là cơ sở để tạo nên sự giàu có của cộng đồng, như vậy chủ nghĩa xã hội mới thành công.

Cuộc trao đổi giữa tôi và ông thỉnh thoảng lại bị ngắt quảng bởi những cú điện thoại từ các nơi đổ về. Ông giải thích: một số anh em bạn bè cũ gọi điện trao đổi công việc. Tôi hỏi ông: Tưởng bác đã nghỉ hưu sẽ được an nhàn? Ông cho biết, nghỉ có nghĩa là không đảm đương chức vụ. Còn công việc thì vẫn còn nhiều thứ để làm. Vừa rồi ông đã thành công trong việc vận động các nhà hảo tâm xây dựng một thư viện với hơn 1.000 đầu sách cho xã Cộng Hoà, quê hương ông. Hiện ông đang ấp ủ ước mơ là xây dựng cho quê nhà một trường đại học tư thục về quản trị kinh doanh. Muốn làm được điều này phải có vốn đầu tư khoảng 100 tỷ đồng. Bằng uy tín cá nhân, một số doanh nghiệp đã sẵn sàng góp vốn. Vừa qua, ông đã đấu nối được với một số trường đại học có uy tín ở Anh như Birmingham, Cambridge, họ đã sẵn lòng hợp tác, chuyển giao công nghệ đào tạo thông qua hình thức đào tạo liên thông, cấp chứng chỉ quốc tế. Theo đó những sinh viên theo học phải được đào tạo cả lý thuyết lẫn thực hành và có khả năng  đảm đương những vị trí quan trọng ở các doanh nghiệp, các tổ chức ngay sau khi ra trường, đặc biệt và kỹ năng về quản trị kinh doanh.

"Chắc bác sẽ làm chủ tịch Hội đồng quản trị?" Ông lắc đầu: " Tôi quá tuổi rồi. Với lại, ông đã từng đảm đương nhiều cương vị rồi, bây giờ chỉ muốn truyền đạt lại kinh nghiệm cho những người trẻ tuổi. Tôi sẽ đứng ở sau. Các bước triển khai, vướng đâu, tôi giúp đó".

Ông tiễn tôi ra cửa. Vẫn dáng vẻ khoan thai, tao nhã. Ít ai có thể nghĩ rằng ông đã bước qua tuổi 75.

  • Hải Lan
  •  
,
,