,
221
505
Thư Thăng Long
thuhanoi
/thuhanoi/
925582
Ký ức 30/4 từ các chứng nhân lịch sử
1
Article
null
,

Ký ức 30/4 từ các chứng nhân lịch sử

Cập nhật lúc 22:21, Thứ Bảy, 28/04/2007 (GMT+7)
,

(VietNamNet) - Hơn 30 năm, Tổ quốc thống nhất, đất nước hoà bình, cả dân tộc Việt Nam đang đi về phía trước, nhưng cảm xúc về những khoảnh khắc cuối cùng của chiến tranh vẫn tràn chảy trong ký ức những chứng nhân lịch sử. Họ gửi đến Thư Hà Nội niềm tự hào được ở trong số ít người có mặt ở dinh Độc lập trong thời điểm lịch sử, trưa 30/4/1975, cùng niềm vui đang được sống trong "vòng tay lớn" của gia đình, bạn bè, những người người thân thương trên quê hương yêu dấu.    

Cảm xúc vỡ òa của một niềm vui trông đợi không phải của 30 năm, 100 năm, 1.000 năm mà là của cả dân tộc 4.000 năm dồn lại. Không còn chiến tranh, không còn chia cắt. Non sông liền một dải. Bắc - Nam sum họp. Hòa Bình - hai chữ thiêng liêng của mơ ước ngàn đời đã thành sự thật.

 

Nhiều người được chứng kiến giờ phút lịch sử ấy đang sống, họ vẫn còn nhớ những gì đã xảy ra 32 năm về trước, bồi hồi kể lại trong bức thư này.... 

 

(Nghe bài hát "Nối vòng tay lớn" của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, tại đây)

 

KỲ I: NHỮNG NGƯỜI ĐẦU TIÊN VÀO DINH ĐỘC LẬP 

  • Đại tá Bùi Quang Thận: Người cắm cờ chiến thắng

Ngày đó, ông là Trung úy, Đại đội trưởng, ngồi trên xe tăng số 843, thuộc Lữ 203, Quân đoàn 2, xông thẳng vào Dinh Độc Lập. Ôm lá cờ Quân giải phóng chạy lên nóc Dinh, hạ lá cờ ba sọc - biểu tượng của Chính quyền Sài Gòn, kéo cờ Cách mạng lên; báo hiệu Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, đánh dấu khoảnh khắc cuối cùng của chiến tranh. Lúc đó là 10h30 giờ Sài Gòn - 11h30 giờ Hà Nội ngày 30/4/1975.

Theo wikipedia
Xe tăng Quân giải phóng tiến vào Dinh Độc lập. (Theo vi.wikipedia.org)

Một ngày tháng Tư, trong hơi lạnh của đợt gió mùa Đông Bắc cuối mùa trên quê lúa Thái Bình, chúng tôi gặp lại ông. Giọng hơi khàn, ông nói bị ốm do thời tiết nóng - lạnh thất thường, ”nhưng không quật ngã được người lính này đâu cô ạ”. Vì thế, dù khàn giọng, nhưng vẫn cảm được niềm vui qua từng câu chữ, ông chậm rãi kể:  

Vào chiến dịch, ai cũng hiểu đây là trận quyết chiến cuối cùng, nhưng không ai nghĩ mình là người cắm cờ chiến thắng. Cho đến khi chiếc xe tăng của tôi vượt lên một chiếc khác đang bị kẹt ở cánh cửa Dinh, nhìn lên nóc tòa nhà thấy lá cờ ba sọc bay, tôi chỉ nghĩ làm sao hạ lá cờ này càng nhanh càng tốt.

 

Không nghĩ đến những nguy hiểm đang rình rập nơi hang ổ này, cũng không nghĩ tới việc mình chẳng biết đường lên. May mà vừa leo tới chân cầu thang, có một người đàn ông (có lẽ là cơ sở nội đô) dắt tôi đi.

 

Khi kéo lá cờ lên, ngước nhìn ngọn cờ chiến thắng nửa xanh nửa đỏ tung bay trong nắng gió, nhìn xuống dưới thấy 3 phía xe tăng ta và các đơn vị bộ binh đang áp sát về phía Dinh, chợt trào nước mắt vì niềm hạnh phúc quá lớn.

 

Tôi đã hoàn thành nhiệm vụ một người lính chiến đấu vì Tổ quốc, trên hết tôi được thay mặt tất cả những đồng đội, đồng chí đã ngã xuống, đang cùng tôi chiến đấu, cắm lá cờ chiến thắng báo hiệu giờ phút lịch sử - Hòa bình trên Tổ quốc Việt Nam.

 

Giờ phút hòa bình đầu tiên, tôi và tất cả những người lính lúc đó duy nhất một ý nghĩ – được về nhà gặp bố, mẹ, vợ, con… Đơn giản lắm, nhưng là máu thịt của bao người đổ xuống, nên nó là ước mơ, nguyện vọng vô giá đối với người lính khi được hưởng giây phút đầu tiên của Hòa bình.

  

Nói thêm một chút, ước mơ đó phải tới cuối năm 1976 ông mới thực hiện được. Nhưng bù lại, khi đơn vị chuyển quân vào Phú Bài - Huế, vợ ông đã lặn lội đường xa vượt sông, vượt đèo vào thăm chồng và cô con gái đầu lòng ra đời mang tên Huế là niềm hạnh phúc của ông - người lính cụ Hồ. 

  • Trung tướng Phạm Xuân Thệ và cuộc đối thoại cuối cùng của chiến tranh

Tư lệnh Quân khu I, 32 năm trước, ông là Trung đoàn phó, E66, F304, Quân đoàn 2 (Binh đoàn Hương Giang). Ông là một trong những người đầu tiên vào phòng họp trong Dinh Độc Lập, bắt gọn toàn bộ nội các Chính quyền Sài Gòn - 42 người. Sau đó đưa Tổng thống (TT) Dương Văn Minh đến Đài phát thanh.

Trung-tuong-Pham-Xuan-The-_.jpg
Trung tướng Phạm Xuân Thệ. (Ảnh: theo Sài Gòn giải phóng)

Trong phòng khách sang trọng nhưng ấm cúng và đầy chất lính của Quân khu, trong một chiều đẹp như thơ miền trung du của “Thủ đô gió ngàn Việt Bắc”, 58 tuổi, vị tướng trận vẫn giữ nguyên vẻ nhanh nhẹn, tinh anh, hào khí dũng tướng như thời trai trẻ chinh chiến khắp các chiến trường. Vẫn không kìm chế được sự xúc động, ông kể lại kỷ niệm sâu sắc nhất vào ngày giờ ấy - “Cuộc đối thoại cuối cùng của chiến tranh”, tôi đặt tên cho câu chuyện của ông như vậy.

 Khi xe chúng tôi do chiến sĩ Đào Ngọc Vân lái lách đến chân cầu thang, tôi gặp một người đàn ông, áo quần lễ phục chỉn chu, rất trịnh trọng nhưng gương mặt hơi căng thẳng lo lắng: ”Báo cáo Chỉ huy Quân giải phóng. Tôi - Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh - Phụ tá TT Dương Văn Minh. Toàn bộ chúng tôi đợi các ông ở phòng khánh tiết!”…

 

Tôi đến cửa, toàn bộ nội các của họ đứng dậy chào. Vẻ mặt ai cũng bồn chồn lo lắng, có người lúng túng sợ sệt. TT Dương Văn Minh chậm rãi: “Biết Quân giải phóng đã vào thành phố, nội các chúng tôi đang chờ các ông để bàn giao”.

 

Tôi nói dõng dạc: “Các ông phải đầu hàng vô điều kiện. Yêu cầu tất cả xếp hàng đôi ra khỏi ngôi nhà này”.

 

TT Dương Văn Minh khẩn khoản: “Chúng tôi xin được ở đây. Ra ngoài bây giờ không an toàn”. Tôi trả lời: “Các ông phải ra Đài phát thanh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện…".

 

Sau đó, chúng tôi đưa ông ra Đài phát thanh....

 

13h20 – giờ Hà Nội, TT Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Bản tin này được tất cả các đài, các hãng thông tấn báo chí thế giới chính thức đưa tin.

 

 30/4/1975 là một niềm hạnh phúc kì diệu trong cuộc đời binh nghiệp của tôi – Tôi không ngờ mình lại là người ở trong sự kiện lịch sử đó. Ước nguyện cháy bỏng lúc đó – như tất cả người lính, được về gặp bố, mẹ, vợ và có một đứa con… Nhưng phải tới 8 tháng sau tôi mới được về nhà – vì còn phải tiếp tục đi đánh tàn quân Fulro ở Tây Nguyên. 

  • Nhà báo, TS Đậu Ngọc Đản:  Hết chiến tranh, khoảng cách thật gần

32 năm qua, nhưng cảm xúc và những hình ảnh của giờ khắc ấy vẫn đậm dấu trong anh. Ngày đó anh là một nhà báo trẻ, phóng viên chiến trường của Thông tấn xã Việt Nam.

 

Một giọng Nghệ An rất nhẹ, ấm, ánh mắt long lanh vui, 32 năm trước như đang ẩn hiện: “Tối 29/4/1975 theo chân đoàn xe tăng 203, F304, E66 vào đến cửa ngõ Sài Gòn, gặp hai xe tăng của C2, E273 Binh đoàn Tây Nguyên, còn lúng túng chưa biết phải tiến lui như thế nào, thì thật diệu kì – một cô gái Sài Gòn xuất hiện giữa mịt mù khói đạn, ra dấu và hét lớn: “Em là Trung Kiên, biệt động Sài Gòn, được cử dẫn đường…” (sau này hãng phim truyện Việt Nam hay Hãng phim Giải phóng đã dựng phim “Cô Nhíp” để nói về nữ biệt động thành này).

Chien si biet dong Nguyen Trung Kien_NgocDan.jpg
Chiến sĩ biệt động nguyễn Thị Trung Kiên, người dẫn đường cho xe tăng quân giải phóng tiến vào Tân Sơn Nhất. (Ảnh: theo hanoi.vnn.vn)

Mũi xe của Trung Kiên hướng dẫn lao thẳng về sân bay Tân Sơn Nhất. Tôi đã bấm được bức ảnh rất đẹp về cô. Và ngay lúc đó cảm thấy yêu mến tất cả những người dân Sài Gòn. Cảm xúc đó càng tăng thêm khi tiến sâu vào Ngã tư Hàng Xanh, thấy người dân đứng đầy hai bên đường cầm cờ vẫy chào. Không một chút nghi ngờ hay sợ hãi, tôi và các chiến sĩ nhao lên nóc tăng vẫy chào lại, cảm giác chiến tranh, bom đạn sắp kết thúc, đồng bào Sài Gòn thân thuộc quá, không hề nghĩ họ là “bên kia”…  

Khoảnh khắc chiến tranh ác liệt, gian khó đẫm máu, nước mắt chấm dứt. Thật lạ! Lần đầu tiên bước chân vào Sài Gòn nhưng tôi thấy thân thuộc. Có lẽ Sài Gòn là nơi mà trong cả giấc mơ chúng tôi luôn đăm đắm, là quê hương đang chờ những người lính giải phóng quân về. Cũng vì thế, khi nhìn thấy cảnh các người lính Sài Gòn và nội các của họ bại trận, chỉ thấy cảm thương, không thù hận, thậm chí trong tôi xóa rất nhanh hình ảnh đối phương là kẻ thù – là giặc. Tôi không ngần ngại nhờ một người lính Sài Gòn dẫn đường cho tôi ra sân bay Tân Sơn Nhất để chuyển tin ra Hà Nội đêm 30/4/1975 kịp bản tin sớm hôm sau.

 

Trước đó, nghĩ về phóng viên phương Tây là sự nghi ngại bất hợp tác, thế mà chiều 30/4/1975 giữa tôi và họ ở sân Dinh Độc Lập là tình đồng nghiệp chia sẻ tin tức. Kết thúc chiến tranh – xóa được bao khoảng cách – Thật tuyệt vời”.

 

                                                                     

       KỲ II: NHỮNG NGƯỜI Ở "BÊN KIA CHIẾN TUYẾN"

  • Thiếu tướng Phạm Xuân Ẩn - "Thất bại của tình báo Mỹ" trong chiến tranh VN

Khi còn sống luôn ẩn mình, kín đáo, dù những gì ông làm trong cuộc đời là những chiến tích không thể nói hết ý nghĩa đối với sự nghiệp độc lập, hoà bình, thống nhất đất nước. Chỉ đến khi ông mất, mọi người thông qua các bài báo, tác phẩm văn học, lời kể của những đồng đội và cả đối phương mới thấy được sự cống hiến to lớn của ông đối với Tổ quốc, với lý tưởng đã chọn. Thiếu tướng Phạm Xuân Ẩn (được phong tặng Anh hùng Lực lượng vũ trang), một nhà tình báo được ngay cả đối thủ là CIA Mỹ thán phục và công nhận: “Ông chính là thất bại lớn nhất của tình báo Mỹ trong chiến tranh Việt Nam”. Suốt mấy mươi năm ẩn thân trong vỏ bọc phóng viên thường trú Times ở Sài Gòn cho tới năm1976, khi văn phòng này tạm ngưng hoạt động ở Việt Nam.  

 

Không những hoàn thành vai trò nhà báo xuất sắc được đồng nghiệp thế giới nể trọng, mà ông còn hoàn thành nhiệm vụ của nhà tình báo chiến lược một cách hoàn hảo. Ông đã góp phần để các nhà lãnh đạo cuộc kháng chiến có những quyết sách chính xác trong chiến lược, chiến thuật đưa đến sự thành công: chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam, thống nhất toàn vẹn đất nước.

 

Tôi đã có một cuộc nói chuyện với ông trong chuyến viếng thăm gia đình, những tưởng chỉ là dạo đầu để chuẩn bị cho một cuộc phỏng vấn chính thức cho ngày 30/4 năm nay… Không ngờ, đó là cuộc nói chuyện cuối cùng với ông về ngày đó. Một nén nhang gửi hương hồn ông – Và xin được ghi ra đây đôi dòng suy nghĩ của ông về cái khoảnh khắc đáng nhớ đó của chiến tranh.  

PXAn2.jpg
Ông Phạm Xuân Ẩn và tấm thẻ nhà báo. (Ảnh: Internet)

"Với tôi, khi xác định được mục tiêu, lý tưởng và nhiệm vụ của mình thì điều đầu tiên nghĩ đến phải là hoàn thành và bằng mọi cách hoàn thành nhiệm vụ, trong đó có việc bảo toàn cá nhân mình. Tôi đã được biết trước những gì sắp đến – nhưng không rõ sẽ vào lúc nào một cách chính xác, nên khi nó tới, khi lá cờ Quân Giải phóng bay phấp phới trên Dinh Độc Lập, tôi vui – niềm vui vì mình đã hoàn thành nhiệm vụ, song không bất ngờ. 

Nhưng vào cái giờ phút đó, tôi lo lắng không biết điều gì sẽ xảy ra. Liệu có một cuộc nổ súng trên đường phố? Bạn bè tôi, số phận sẽ thế nào? Vâng! Đây là bạn bè báo chí phương Tây, bạn bè trong chính quyền Sài Gòn, là người  dân Sài Gòn. Lúc đó, tôi đang giữ một vai trò ở Times. Tôi phải tự mình chạy khắp nơi trong thành phố lấy tin, làm tin đưa về tòa báo sao cho thông tin trung thực, và để cho thế giới biết chiến thắng của ta, hòa bình thật sự, không có tàn sát, cướp bóc, hỗn loạn…

 

Điều tôi xúc động lại chính là hình ảnh những người lính chính quyền Sài Gòn, áo trận xốc xếch, súng ống quăng khắp nơi, bơ phờ, thất thần, tuyệt vọng; hoàn toàn trái ngược với những người lính Giải phóng quân – áo quần bê bết bùn đất, mặt mũi sạm đen thuốc súng, song ánh mắt lấp lánh, ngời ngời niềm vui tỏa ra.

 

Niềm vui thật sự của tôi đêm ấy, 30/4/1975, Sài Gòn không còn tiếng súng đạn, điện nước vẫn bình thường, dân tình bình yên... Kết thúc cuộc chiến tranh kéo dài mấy mươi năm mà như thế… chỉ có Việt Nam.

 

Có một tin đồn “Việt Cộng lột móng tay mấy cô Sở Mỹ” nhưng đêm đó tôi tới Hạ Nghị Viện (Nhà hát TP.HCM bây giờ) thấy các cô “Sở Mỹ” đang may cờ quân Giải phóng và cờ đỏ sao vàng kịp ngày hôm sau làm mít-tinh mừng chiến thắng. Móng tay các cô sơn đỏ chót, chỉ khác là mặc áo bà ba. Các cô cười bẽn lẽn: “Mấy anh Giải phóng khen con gái Sài Gòn đẹp, không ai ghét bỏ gì”.

 

Tôi cũng sợ chứ, vì lúc đó trên danh nghĩa tôi vẫn là một nhà báo của phía bên kia, có thể hứng một viên đạn. Nhưng chỉ một thoáng qua, khi quân Giải phóng vào thành phố, tôi thấy cuộc đời thật đẹp.

 

Tôi đã sống, đi qua hai cuộc kháng chiến chống (hết Pháp lại đến Mỹ), đã hoàn thành nhiệm vụ và sống được đến ngày chiến thắng. Có chết cũng vui và thanh thản. Cho đến hôm nay tôi hoàn toàn bình yên vì nhiệm vụ đã xong”. 

  • Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh - Hoàn thành chữ "tín" với cách mạng

Nguyên là Chuẩn tướng, phụ tá Tổng thống (TT) Dương Văn Minh, Trợ lý Tổng Tham mưu trưởng Chính quyền Sài Gòn nhưng ông lại là nhân vật rất đặc biệt, “nội ứng” của quân cách mạng được xây dựng qua đường binh vận. Sau này, ông là nhân vật chính của cuốn tiểu thuyết “Viên phụ tá Tổng thống” của Hà Bình Nhưỡng và bộ phim tài liệu “Khoảnh khắc đời người” của Đài truyền hình TP.HCM.

 

images1290029_nguyenhuuhanh7.jpg
Ông Nguyễn Hữu Hạnh. (Theo VietNamNet)
Rất hào hứng nhưng cũng rất khiêm nhường, ông kể lại khoảnh khắc Chiến tranh và Hòa bình… Khoảnh khắc ông hồi hộp đợi chờ với bao cảm xúc. Ông cười rất chân thành: Tôi kể với cô ở vị trí người phía “bên kia”.

 

“Đêm 29/4/1975, tôi từ Bộ Tổng Tham mưu đi cùng với Tướng Nguyễn Hữu Có đến nhà TT Dương Văn Minh họp bàn kế hoạch hòa hoãn với quân Giải phóng. Song chẳng bàn được gì vì mọi việc diễn ra quá thần tốc. Lúc đó, duy nhất tôi nghĩ, hãy đừng để tình hình quá xấu cho đỡ sự hy sinh mất mát cả hai phía đây cũng là cơ hội cuối cùng cho tôi hoàn thành ý nguyện cách mạng giao cho.

 

Trước đó, tôi từ Cần Thơ lên, Tướng Chức cho một chiếc xe Jeep, nhưng sáng sau thì cả xe lẫn người biến mất. Tôi lên chiếc xe lạ, chẳng biết của ai, lái xe cũng lạ, đến Đài phát thanh, thay mặt Tổng thống, Tổng Tham mưu trưởng trấn an tinh thần binh lính, kêu gọi quân đội buông súng giao lại cho quân giải phóng. Cuộn băng này, khi tiếp quản thành phố không hiểu sao mất – chỉ còn phần tuyên bố của Tổng thống Dương Văn Minh. Rất may ông Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre lúc đó là Mười Kỷ đã thu được qua đài phát thanh gửi lại cho tôi. Tôi vẫn giữ đến giờ.

 

(Lời kêu gọi binh sĩ hạ vũ khí trong hòa bình của Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, bấm vào đây)

 

Khi quay trở về Dinh Độc Lập, tôi mới chợt giật mình. Sợ chứ! Lúc đó lộn xộn, tôi mặc quân phục đầy đủ lon sao, không ai hộ tống ngoài người lái xe lạ hoắc. Một viên đạn lạc, một viên đạn chủ ý…

 

Tôi đã hít thở sâu, cố trấn tĩnh mình khi chuẩn bị đón tiếp quân Giải phóng. Tiếng gầm rú của xe tăng và vị chỉ huy Quân Giải phóng xuất hiện, lấm lem bụi đỏ thuốc súng, mắt sáng, rất nghiêm và cũng rất đĩnh đạc (sau này tôi biết đó là Phạm Xuân Thệ, Trung đoàn phó chỉ huy xe tăng) cuối cùng đã đến. Tôi đã hướng dẫn vị chỉ huy vào phòng khánh tiết. Tất cả nội các chính quyền Sài Gòn đã ở đó. Việc gì sau đấy mọi người đã biết. Tổng thống đọc tuyên bố đầu hàng vô điều kiện”.

 

Sau đó, ông Nguyễn Hữu Có nói tôi về nhà ông, nhưng tôi ở lại. Tôi không thể nói rõ cho họ biết vì tôi “đợi” người của “bên mình”. Nếu lúc đó trường hợp xấu xảy ra – có thể, vì người bảo đảm cho tôi không biết đang ở đâu, tôi vẫn vui vì đã hoàn thành chữ “tín” với cách mạng, góp một chút sức lực nhỏ nhoi vào sự nghiệp chung, như hành động “lập công chuộc tội”.

 

Quan sát những người lính giải phóng – Họ là đội quân có kỷ luật, nhưng họ không gắt gao, lịch sự đúng mức. Tôi khâm phục cách ứng xử, hành xử của họ vào thời điểm mà bất cứ điều bất trắc nào cũng có thể xảy ra. Nó còn được chứng minh rõ ràng. Thành phố ngày đầu hòa bình không cướp bóc, xáo trộn, người dân vui vẻ đổ ra đường đón chào quân giải phóng, điện nước và cả Đài phát thanh truyền hình vẫn có, nhưng thay đổi “chủ nhân”.

 

Vâng, 32 năm đã qua… là kỷ niệm, dấu ấn cuộc đời. Tôi rất mãn nguyện. Tôi được sống trong tình cảm bạn bè, người thân, cả những người đã tạo điều kiện cho tôi được sống như một người dân Việt chân chính. 

  • Ông Nguyễn Hữu Có: "Tôi tin vào những điều tốt lành" 

Nguyên Trung tướng, Tổng tham mưu trưởng, Phó Thủ tướng thời TT Nguyễn Văn Thiệu, cố vấn Tổng tham mưu trưởng thời TT Dương Văn Minh, hiện là Ủy viên Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc TP.HCM, 83 tuổi.

 

Rất vui vẻ, nhiệt tình, giọng nói khỏe không một câu vấp, từng chi tiết nhỏ vẫn được nhớ đến cả chuyện từ hồi ở trong đội Pháp ở miền Bắc, trong Điện Biên Phủ…

 

"Ngày 30/4/1975, “kết thúc cuộc đời binh nghiệp của tôi” - Ông nói vui - Vâng. Đó là một ngày dài.

 

Cohoa.jpg
Cờ hoa rực rỡ trong ngày vui chiến thắng. (Ảnh: theo baotanghcm)

 

Bất ngờ thì không! Trước đó những thông tin Buôn Mê Thuột, Bình Long, Phước Long, Đồng Xoài thất thủ, tôi đã đoán điều gì sẽ xảy ra. Lo lắng cho nó đến Sài Gòn. Chỉ kì lạ là thái độ của các vị trong nội các TT Dương Văn Minh, mỗi lần gặp, họ vỗ tay hoan hô tôi… không có gì là Sài Gòn sắp mất, là chiến sự căng thẳng. Hóa ra là ông Đại sứ Pháp hứa liên lạc với Trung Quốc, để giúp ảnh hưởng quân cách mạng hai bên ngồi đàm phán kết thúc chiến tranh. Tôi hồi đó là “người của Pháp”.

 

Ngày 30/4/1975, tôi thật sự lo lắng, gọi cho Tướng Lê Minh Đảo ở Biên Hòa, tướng Đảo buồn rầu – lính đào ngũ hết, không giữ nổi, xe tăng quân giải phóng đã xuất hiện. Gọi cho Trung tâm huấn luyện Quang Trung, để giữ đài phát xạ bảo đảm liên lạc, Trưởng trung tâm hốt hoảng – “Tôi đã thấy đặc đường quân giải phóng, lo mạng chưa xong”.

 

Gọi xuống Cần Thơ, Tướng Tư lệnh Quân đoàn 4 miền Tây cho biết, quân số đầy đủ, sẵn sàng chiến đấu. Vâng, nhưng mọi việc quá thần tốc, chớp mắt tôi thấy lá cờ Quân Giải phóng bay trên nóc Dinh, đường phố rợp cờ đỏ. Lúc đó tôi buồn bã và lo cho số phận của tôi và các bạn bè đồng ngũ trong chính quyền Sài Gòn – Không biết ngày mai ra sao.

 

Tôi cũng đã chuẩn bị cho gia đình di tản, nhưng cuối cùng, ngày 29/4, gia đình tôi “di tản” vào Chợ Lớn, vì nhà tôi ngay trên con đường vào thành phố của quân giải phóng. Sau đó tôi đi học tập ngoài Bắc, khi về, các con tôi và tôi cùng ở lại làm công dân thành phố Hồ Chí Minh, 12 người con cả trai cả gái, một bà vợ với hơn 55 năm “đầu gối tay ấp chia ngọt sẻ bùi”.

 

Sau lúc ông Minh đọc lời tuyên bố, không chỉ tôi và nhiều người khác như trút được gánh nặng. Thời điểm đó, cũng có nhiều ý kiến – Đưa ông Minh về miền Tây, rồi tổ chức đánh tiếp – Quân dưới đó còn nguyên. Nhưng, như thế lại tiếp tục đổ máu, chết chóc và rồi được cái gì? Cũng người Việt đánh người Việt – Ông Minh nói, Sài Gòn ít quân, nhưng dân nhiều, đánh nữa thì tan nát cả thành phố. Chúng ta phải thuyết phục, trong hòa bình… Ban đầu ông không chịu chữ “đầu hàng”.

 

Nhưng rồi… Cảm giác buồn lúc đó cũng thật khó diễn tả - Tôi là tướng trận, nhìn binh lính Sài Gòn thất thần, hoảng loạn, vũ khí quăng bừa bãi, nhếch nhác sợ sệt, yếu đuối trong khi quân Giải phóng mang vẻ lạc quan, tự tin dù rất trẻ, có người chừng 18-20 tuổi. Đêm đó, nỗi lo trong tôi gần như không còn. Đêm hòa bình thật sự, cả thành phố sáng đèn, không tiếng súng, lại còn nghe “Nối vòng tay lớn” của Trịnh Công Sơn phát trên sóng phát thanh. Tôi tin vào những điều tốt đẹp".

 

Ông kết thúc câu chuyện: "Ngày hôm nay, tôi hạnh phúc. Tôi được hàng xóm gọi “Bác Ba, Ông Ba”, tôi ra ngoài Bắc được cả những tướng lĩnh “đối thủ” ngày xưa đón tiếp nồng hậu, giữa chúng tôi là bạn bè, lâu lâu gặp lại kể chuyện ngày xưa “mi” - “ta” từng đánh nhau…". Rồi cười thật vui sảng khoái: "32 năm, xa quá rồi, nghĩ đến hôm nay và tương lai thôi".

 

                                                                         &&&

 

32 năm! Chiến tranh đã lùi xa… 18 đời vua Hùng đến thời đại Hồ Chí Minh. Máu và nước mắt để cho một Việt Nam đời đời trường tồn vững mạnh trong hòa bình ấm no hạnh phúc. 

 

"Ngày đi như trong đêm mơ, tuổi lớn rồi mà như ngây thơ. Ôi ta đang đi, đi giữa rừng hoa hay đi giữa chốn rừng cờ”.… 

 

(Nghe bài "Mùa xuân trên thành phố Hồ Chí Minh" của nhạc sĩ Xuân Hồng, tại đây ).

  • Hoài Hương (thực hiện)

>>> Cảm xúc của bạn về bài viết và những chứng nhân lịch sử ở 2 "chiến tuyến"? 

 

 

,
Gửi cho bạn bè In tin này
Ý kiến của bạn
Ý kiến bạn đọc
,
,
,
,