Cải cách giáo dục: Đâu là giải pháp đột phá?(II)
- …Toàn bộ các giải pháp GD phản ánh một hệ thống GD mở, linh hoạt, mềm dẻo, một nền GD vì người học, hướng tới người học, cho người học, không phải vì người quản lý. Nhưng những giải pháp này phải nằm trong một cơ chế quản lý xã hội vừa dân chủ, pháp luật nghiêm minh, minh bạch, vừa có sự đồng thuận của các cấp quản lý chính quyền và nhân dân.
Trong quá khứ, đất nước ta đã triển khai nhiều cuộc CCGD. Những cuộc CCGD ấy đi theo hướng nào?
CCGD quá khứ: Đột phá là chương trình và phương pháp.
Để có thể hiểu được bản chất các cuộc CCGD đã từng diễn ra, tiến trình và hiệu quả của nó, từ đó, có sự nhìn nhận, thẩm định và xác định được khâu đột phá, tạo nên sự bứt phá, “giải phóng năng lực sáng tạo” của GD trong tương lai, góp phần tạo nguồn lực lao động cho xã hội tương xứng yêu cầu phát triển thời hiện đại, người ta cần xem xét những cuộc CCGD dưới cái nhìn hệ thống.
Đến thời điểm này, đất nước ta đã trải qua ba cuộc CCGD lớn và một cuộc đổi mới GDPT.
Cuộc CCGD năm 1950: Nhằm xây dựng một nền GD của chế độ mới, với nội dung yêu nước, cách mạng. Hệ thống GD từ 12 năm (chế độ thuộc địa) chuyển sang hệ 9 năm.
Cuộc CCGD năm 1956: Sau sáu năm thực hiện, nhận thấy những non nớt và yếu kém của cuộc CCGD này, đất nước ta lại phải tiến hành cuộc CCGD mới. Hệ thống GD chuyển từ hệ 9 năm sang 10 năm. Ở cuộc CCGD này, chương trình, SGK chủ yếu là sao chép lại của các nước xã hội chủ nghĩa, sớm bộc lộ sự quá tải.
Đến mức, năm 1960, chúng ta đã manh nha chủ trương phải chuẩn bị cho một cuộc CCGD khác. Chuẩn bị cho sứ mệnh này, năm 1961,Viện Khoa học GD ra đời, phác thảo và xây dựng đề án CCGD. Năm 1972, đề án hoàn thành. Nhưng đây cũng là năm đất nước đầy biến động và thăng trầm bởi chiến tranh.
Năm 1975, một bước ngoặt lớn, đất nước thống nhất. Giai đoạn lịch sử mới buộc nhà nước ta xem xét, thấy cần phải bổ sung, hoàn thiện đề án phù hợp với thời cuộc mới.Tinh thần chỉ đạo cuộc CCGD sẽ triển khai là không được thua kém các nước về tri thức. Quan điểm đó chi phối, xuyên suốt trong toàn bộ việc xây dựng CT, SGK. Tư duy nhồi nhét kiến thức cho học sinh càng nhiều càng tốt để không “thua chị kém em” một lần nữa lặp lại ở ngay cuộc CCGD mới, tiến hành 1980.
Cuộc CCGD năm 1980: Hệ thống GD lại chuyển từ 10 năm sang 12 năm (bỏ lớp vỡ lòng), kéo theo sự đổi mới chương trình, SGK và cải tiến chữ viết. Do dư luận xã hội phản ứng mạnh, ngành GD và ĐT dần dà quay lại chữ viết cũ như hiện nay. Do tinh thần chỉ đạo “không thua chị kém em”, thực tiễn CT, SGK của cuộc CCGD năm 1980 này lại bị chính các nhà trường kêu quá tải.
Với ý nghĩa nội dung bao giờ cũng quyết định phương pháp, nếu SGK bị quá tải thì không có một phương pháp nào ngoài phương pháp truyền thụ một chiều cho kịp với nội dung CT, SGK. Chính vì thế, mặc dù chỉ còn một năm nữa là triển khai công cuộc đổi mới GDPT, và bộn bề công việc, ngành GD và ĐT vẫn buộc phải thực hiện giảm tải CT, SGK.
Công cuộc đổi mới GDPT năm 2000: Thay vì cần có một cuộc CCGD triệt để, tích cực, ngành GD và ĐT lại triển khai những giải pháp mang tính chắp vá, đơn lẻ với hai nội dung cơ bản.
1) Đổi mới CT, SGK. Ở năm mở đầu này, đổi mới tư duy trong xây dựng CT, SGK chưa được xã hội cảm nhận rõ thì chính trong ngành lại có sự tranh luận quyết liệt về thứ tự chữ e hay chữ a, chữ viết thường hay chữ viết hoa?..vv.., gây phản cảm và hoài nghi của xã hội, từ bộ sách tiểu học.
2) Đổi mới phương pháp. Do nhiều nguyên nhân, cả cơ chế quản lý, cung ứng thiết bị GD, sự hiểu biết hời hợt, ấu trĩ về đổi mới phương pháp, và sức ì thâm căn cố đế của người thầy; quan trọng hơn, ngành vẫn thiếu hàng loạt các giải pháp mang tính hệ thống, đồng bộ, đó là đổi mới về đánh giá, thi cứ, kiểm tra… Rốt cục đến thời điểm này, “hàng nghìn tỷ đồng của nhân dân ném ra gió”, nhưng thầy trò các nhà trường vẫn tiếp tục dạy chay- học chay, tiếp tục truyền thụ kiến thức một chiều là chủ yếu. Đổi mới phương pháp, mục tiêu lớn nhất của công cuộc này đã không thành hiện thực.
CCGD tương lai: Đột phá ở cơ chế quản lý.
Vậy cuộc CCGD mới này phải như thế nào, và đâu là khâu đột phá?
Đây là một vấn đề rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định tác động vào toàn bộ quá trình phát triển của hệ thống GD, từng bước đưa nền GD thoát khỏi trạng thái lạc hậu, trì trệ và quẩn quanh hiện nay.
Khi xem xét toàn bộ những mục tiêu cơ bản của các cuộc CCGD và đổi mới GDPT, với những thành bại của nó, người ta nhận ra rằng, chưa bao giờ ngành GD và ĐT “động chạm” được vào một khâu căn cốt nhất, nhưng nó lại là cái gốc cỗi rễ của vấn đề. Đó là đổi mới tư duy và cơ chế quản lý GD.
| TIN LIÊN QUAN |
|---|
Đổi mới tư duy vừa phải là sự nhận thức đầu tiên, vừa là vấn đề xuyên suốt cuộc CCGD mới, phản chiếu ở toàn bộ hệ thống: Từ mục tiêu, chương trình, phương pháp, tổ chức dạy học, kiểm tra, thi cử, đánh giá đến cơ chế quản lý GD… Nhưng một khi đổi mới cơ chế quản lý GD, chắc chắn đòi hỏi những biện pháp và điều kiện đi kèm, đầy khó khăn và thách thức, nhưng không thể không thay đổi.
Một lẽ lớn hơn, cơ chế quản lý xã hội của cả đất nước, vĩ mô và khó khăn hơn nhiều mà cũng còn phải đổi mới, có thế, đất nước ta mới thoát được sự trì trệ, mới có cơ hội phát triển. Trong xu thế ấy, GD cũng đã có sự “hưởng lợi” khi “xã hội hoá”, “đa dạng hoá” các loại hình GD. Tuy nhiên, về cơ bản, cơ chế quản lý GD vẫn là cơ chế quản lý cũ kỹ: Ôm đồm cái cần phân cấp, lơ là, lỏng lẻo cái cần quản lý chặt, phân tán, cát cứ cái cần tập trung, và thiếu những chính sách tạo động lực cho người làm GD…
Đổi mới tư duy của cuộc CCGD trong tương lai, thể hiện trước tiên ở mục tiêu cuộc CCGD.
Mục tiêu của CCGD mới: Cần xem xét kỹ lưỡng về quan điểm “GD toàn diện” trong các cuộc CCGD trước đây, đã phản ánh khá nặng sự duy ý chí, đòi hỏi sản phẩm GD (đầu ra) phải đầy đủ tri thức, toàn diện tất cả các mặt, nhưng điều kiện GD lại quá bất cập. Đây cũng chính là căn nguyên, cùng với nhiều yếu tố khác, khiến CT, SGK trải qua các cuộc CCGD, đều luôn quá tải, quá sức học sinh, kéo theo hệ luỵ của rất nhiều vấn đề mà GD phải giải quyết, nhưng luôn trong trạng thái luẩn quẩn. Dẫn đến kết cục "dạy chữ" thì hời hợt, "dạy người" không đến nơi, đến chốn.
Với quan điểm như vậy, mục tiêu của CCGD mới phải xây dựng nhẹ nhàng hơn, bảo đảm tiêu chí khái niệm phổ thông nhưng tính chất dạy người phải thấm đậm, sâu sắc hơn, theo hướng chú trọng phát triển nhân cách, năng lực sáng tạo mỗi cá nhân, phát triển nguồn lực con người cho xã hội.
Đổi mới cơ chế quản lý GD, trước hết thể hiện ở toàn bộ hệ thống, đến chương trình, tổ chức dạy và học, đánh giá, kiểm tra…nhưng đồng thời cũng chính là sự đột phá ở cung cách quản lý, vận hành, những chính sách, chủ trương cho con người…
Về hệ thống: Hệ thống GD phải là hệ thống mở, bảo đảm nguyên tắc phân hóa mềm dẻo, phân luồng (sau tốt nghiệp THCS, THPT) và liên thông (dạy nghề, TCCN, CĐ, ĐH) nhưng lại bảo đảm tính thống nhất, nhất quán. Thực chất nhà nước cần cơ cấu lại hệ thống GD quốc dân hiện nay, sao cho phù hợp, hạn chế tình trạng cát cứ, chia rẽ ngay trong kết cấu GD và ĐT, tăng thêm sức mạnh quản lý.
Chương trình: Phải hướng tới mục tiêu phát triển nhân cách, năng lực vận dụng và sáng tạo của cá nhân người học, không phải là truyền thụ kiến thức một chiều. Đây là điểm khác biệt căn bản chi phối và xuyên suốt quá trình xây dựng CT, SGK. Chương trình do vậy phải vừa tinh giản những kiến thức ôm đồm không cần thiết (căn cứ vào mục tiêu GD mới), vừa cập nhật những kiến thức hiện đại, mở rộng thế giới quan cho học sinh.
Phương thức và phương pháp dạy học: Chuyển việc dạy và học theo hướng từ truyền thụ một chiều sang tổ chức cho trò làm việc, thầy hướng dẫn theo ý nghĩa, GD là quá trình hình thành năng lực vận dụng và sáng tạo cá nhân. Việc học gắn với phương thức mở, học không chỉ trên lớp mà còn có thể gắn với các địa bàn tham quan, thực nghiệm…Học sinh tiểu học, THCS phải được ưu tiên và tạo điều kiện học hai buổi/ ngày. Ứng dụng rộng rãi giáo án điện tử(e-learning), nhất là trong tương lai, 100% số trường học sẽ đươc nối mạng CNTT.
Kiểm tra, thi cứ: Với CT, SGK, cách tổ chức dạy học mới thì việc kiểm tra, thi cử, đánh giá cũng phải đổi mới đồng bộ, không chỉ là kiểm tra kiến thức ghi nhớ, mà là kiểm tra và đánh giá năng lực hiểu và vận dụng của học sinh (các đề thi tốt nghiệp gần đây đã có xu hướng đi theo cung cách này). Bên cạnh đó, cần sớm có hệ thống kiểm định chất lượng, đánh giá chất lượng GD tồn tại độc lập, khách quan với ngành GD, có xếp hạng, công bố công khai trong xã hội. Để từ kết quả đánh giá, các trường có sự điều chỉnh, bổ sung hoàn thiện phương thức tổ chức và phương pháp dạy học.
Đổi mới cơ chế quản lý GD: Xác định khâu đột phá của CCGD mới, chính là ở cơ chế và vận hành cơ chế quản lý GD. Ngành GD cần có những biện pháp phân cấp quản lý, tăng cường quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của nhà trường, của quản lý GD cơ sở gắn với yêu cầu công khai, minh bạch, bảo đảm sự giám sát của xã hội, cộng đồng. Đặc biệt ngành cần có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cán bộ quản lý GD cấp cơ sở, để họ có thể hiểu và triển khai đồng bộ các giải pháp mang tính hệ thống, đúng với tinh thần CCGD. Đây là một điểm rất mấu chốt và cực kỳ quan trọng. Thành hay bại của CCGD phụ thuộc lớn vào sự điều hành của đội ngũ này. Có chính sách ưu đãi đội ngũ giáo viên giỏi, nhân tố tích cực, hạt nhân của các trường học.
Mục tiêu các nhà trường không phải là dùng biện pháp hành chính, mệnh lệnh thực hiện các chỉ tiêu chất lượng một cách chủ quan, mà là sự bảo đảm chất lượng trên cơ sở các điều kiện, chống duy ý chí. Huy động các nguồn lực và tạo cơ hội bình đẳng trong GD cho những người nghèo, yếu thế.
Đặc biêt, đổi mới cơ chế quản lý biên chế giáo viên cứng nhắc hiện nay bằng cơ chế hợp đồng mềm dẻo, vừa có khả năng sàng lọc, vừa tạo động lực kích thích giáo viên làm việc và hưởng thụ, thu nhập tương xứng với năng lực, phẩm cách. Sinh viên trong các trường sư phạm phải được đào tạo theo hướng nhanh chóng cập nhật với thực tiễn GDPT
Đầu tư GD: Nguồn lực tài chính là điều kiện cực kỳ quan trọng cho sự triển khai và thực hiện. Cuộc CCGD năm 1980 tiến hành một cách duy ý chí. Đổi mới GDPT 2000 tiến hành bằng các dự án vốn vay của quốc tế. Vậy cuộc CCGD mới này, nguồn tài chính phải được tính toán rõ: Trung ương, địa phương, đóng góp của xã hội… Tất cả việc dự toán, phân bổ và kết quả thực hiện ở các cấp phải rõ ràng, gắn với công tác thanh tra, kiểm tra minh bạch.
Nguồn nhân lực cho CCGD: CCGD mới chắc chắn phải có một “nhạc trưởng” chỉ huy, không nên chịu trách nhiệm tập thể chung chung. Ngành GD cần tính toán một cách khôn ngoan, tận dụng một lực lượng trí thức trẻ, tinh hoa, tư duy trẻ và khoa học được đaò tạo từ nước ngoài, kết hợp với lực lượng trí thức đầy trải nghiệm ở trong nước.
Toàn bộ các giải pháp GD mới phản ánh sự đổi mới về một hệ thống GD mở, linh hoạt mềm dẻo, một nền GD vì người học, hướng tới người học, cho người học, không phải vì người quản lý. Nhưng những giải pháp này phải nằm trong một cơ chế quản lý xã hội vừa dân chủ, pháp luật nghiêm minh, minh bạch, vừa có sự đồng thuận và ủng hộ mạnh mẽ của các cấp quản lý chính quyền và nhân dân. Những giải pháp này cũng phải gắn liền với điều kiện “đầu ra”: việc làm, việc làm và việc làm, cùng những chính sách hợp lý tạo vị thế cho nguồn lực lao động trong xã hội.
Chỉ khi đó, CCGD mới có thể từ ý tưởng thành hiện thực sinh động, làm tròn sứ mệnh- GD là động lực phát triển. Chỉ khi đó, GD mới thực sự tạo nguồn lực con người tương xứng với yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội. Chỉ khi đó, đất nước mới thực sự thăng hoa.
-
Kim Dung
Ý kiến đóng góp và bài vở gửi cho Thư Thăng Long - Hà Nội xin liên hệ với địa chỉ: kyduyen@vietnamnet.vn
PHẢN HỒI CỦA ĐỘC GIẢ VỀ BÀI VIẾT:
Ho ten: Hoàng Tuấn
Dia chi: Quảng Bình
Tieu de: Nhân lực cho ngành GD- một sự thật khó chấp nhận.
Noi dung: Chúng ta biết rằng Việt
Ho ten: Hà Nội
Dia chi: Hà Nội
Email:
Tieu de: Ý tưởng hay!
Noi dung: Đọc những bài của Kim Dung tôi rất thích. Bài viết luôn thể hiện ý kiến của một người am hiểu các vấn đề của GD VN,những lập luận đưa ra bao giờ cũng xác đáng, phân tích có lý và không cực đoan. Rất mong những người có trách nhiệm với nền GD VN tham khảo để vận dụng.
Ho ten: Ngọc Quốc
Dia chi: Hà Nội
Email: cpfc@...
Tieu de: Góp ý
Noi dung: Cải cách giáo dục quá cần thiết cho nước ta. Các nhà lãnh đạo có trách nhiệm trong lĩnh vực này không nên để lâu hơn nữa. Chúng ta đã mất đi quá nhiều thời gian, xã hội thì cứ tiến lên, thời gian thì không quay lại. Chỉ xin nêu một ý kiến: Trong hoạchđịnh chiến lược phát triển xã hội, thế giới đã tổng kết,yếu tố đầu tiên là xem xét độ tuổi trung bình của dân số, để lựa chọn chiến lược phát triển. Dân số Việt
Ho ten: Trần Kha
Dia chi: Trường THPT
Email: Trankha2000@...
Noi dung: Vấn đề giáo viên các quý vị không (hoặc không thể ) hiểu hết. Thử hỏi GV đã an cư chưa mà bảo lạc nghiệp? Đời sống GV khốn khó. Lương chậm 03 tháng. Lương lại theo lương cũ. Sự toàn tâm toàn ý là điều phải bàn nhiều. Tăng lương để làm gi khi trượt giá và lạm phát như con kiến so với con voi......
Ho ten: Nguyễn Trọng Quyền
Dia chi: TP Thanh Hoá
Email: vuvan_quyen
Tieu de: Mấu chốt cho vấn đề GD
Noi dung: Theo tôi để đổi mới nâng cao chất lượng giáo dục cần thiết phải đổi mới ngay từ bậc mầm non, bậc học khởi đầu nhân cách của một con người, sau đó là hệ tiểu học, trung học...Ở một số nước nền giáo dục phát triển như Nhật Bản, Singapore... trẻ em đi học mẫu giáo đã rất có ý thức tiết kiệm, chấp hành kỷ luật, đặc biệt là ý thức cộng đồng rất cao, sau càng học lên các em càng được rèn giũa, hoàn thiện nhân cách. Để có được điều đó cần có đội ngũ giáo viên có tâm, có đạo đức nghề nghiệp... Còn ở ta các nhà quản lý làm đủ mọi "phép" để có thể bố trí giáo viên theo "kế hoạch của một số cá nhân" có thẩm quyền, nếu đem lại cho họ lợi ích, bao gồm kinh tế, chính trị, ...Để làm tốt giáo dục theo tôi nhà nước chỉ cần làm đúng đã tốt lắm rối, ví như "tuyển dụng minh bạch", bố trí cán bộ lãnh đạo, quản lý hợp lý.
Ho ten: Nguyễn Ngọc Hùng
Dia chi: Tp HCM
Email: hung51946@...
Tieu de: Chưa thể thoát ra được!
Noi dung: Bài của Kim Dung cho thấy tác giả là người có nghiên cứu, tổng hợp nghiêm túc và có tâm huyết với CCGD. Tuy nhiên, tôi không đọc phần nói tới các giải pháp, bởi mọi ý kiến về vấn đề này sẽ không được phản hồi tích cực. Nói đúng ra là mọi giải pháp đúng đều sẽ không dễ dàng được chấp nhận trong hoàn cảnh hiện nay. Nền giáo dục của chúng ta đã từ lâu không phục vụ lợi ích của người học, mà phục vụ chủ đích của chính quyền các cấp và của các cá nhân từ hiệu trưởng đến giáo viên. Sự tồn tại của nền giáo dục là mảnh đất kiếm cơm, kiếm lợi của "người lớn". Nếu thay đổi thì ảnh hưởng đến những lợi ích ấy. Ai sẽ chấp nhận thay đổi? Bởi thế, nói thì ai cũng nói được nhưng chưa thể cải cách gì thật sự được đâu.
Ho ten: Nguyễn Liên Châu
Dia chi: Trường Chính trị Trần Phú- Hà Tĩnh
Email: ts.lienchau@...
Tieu de: Cán bộ giáo dục phải có lý tưởng
Noi dung: Tôi rất đồng thuận với tác giả, cải cách giáo dục phải lấy đổi mới cơ chế quản lý làm khâu đột phá để sử dụng cho được người thực giỏi, thực tài; đồng thời tạo ra một môi trường xã hội có văn hoá coi trọng, đồng thuận, đồng cảm cao về chất lượng, hiệu quả giáo dục: Tất cả vì học sinh thân yêu. Điều đó, trước hết do những người lãnh đạo quản lý có bản lĩnh chính trị và lý tưởng cộng sản, có nhân cách quyết định. Cần phải loại trừ khỏi đội ngũ của chúng ta những cán bộ mang nặng bệnh chủ nghĩa cá nhân, phai nhạt chất cộng sản hoặc cộng sản giả tạo.
Ho ten: Trần Anh Tuấn
Dia chi: 128/14 Lê Duẩn
Email: Trananhtienxd@...
Noi dung: Bài viết rất hay, sâu rộng, phân tích kỹ càng từ quá khứ đến hiện tại của CCGD nước ta. Rất mong đất nước sẽ đi đúng hướng về CCGD, chỉ có giáo dục mới làm cho đất nước đổi mới và phát triển được .
Ho ten: Lê Anh Dũng
Dia chi: Hà Nội
Email: Dunggiao61@...
Tieu de: Hãy bắt đầu bằng cải cách sách giáo khoa
Noi dung: Cổ nhân có câu: "Không có sách thì không có tri thức". Tôi xin đề nghị, việc cải cách giáo dục đầu tiên là cải cách CT, sách giáo khoa. Sách giáo khoa phải thực sự dễ hiểu, gần gũi với học sinh, phải là cẩm nang gối đầu giường, là bạn thân thiết của các em học sinh. Sách giáo khoa hiện nay, mang nặng kiểu khoe chữ, đánh đố của tác giả, đến người có trình độ đọc còn khó hiểu, huống chi là học sinh. Và khi sách giáo khoa đã không còn là bạn của học sinh thì dẫn đến vô vàn hậu quả khôn lường đối với sự nghiệp giáo dục.
Ho ten: Nguyễn Văn Hưng
Dia chi: Long An
Email: hungnv65@...
Tieu de: Cải và cách
Noi dung: Chúng ta phải nhanh chóng "cải" tư duy để có tư duy phù hợp với thời đại, đồng thời phải triệt để "cách" tư duy cũ lỗi thời, chắp vá, cá nhân. Giáo dục đã qua nhiều cải cách nhưng phải nói công cuộc cải cách từ năm 1980 trở lại đây hiệu quả rất thấp, thậm chí có mặt đã thành "cải lùi" thay vì phải "cải tiến". Tôi xin mạo muội đưa ra vài ý như sau: 1-Trong thi cử và đào tạo đại học, cao đẳng, dạy nghề, hãy để các trường tự chủ tự chịu trách nhiệm từ việc ra đề cho đến khâu đào tạo. Nền kinh tế thị trường tự nó sẽ đào thải những nơi không có uy tín. Bộ chỉ quản lý ở tầm vĩ mô. Nhà nước hãy chú trọng đào tạo tới các lĩnh vực, ngành cơ bản như toán, vật lý.v.v. khi các ngành khoa học cơ bản được chú trọng và phát triển thì đất nước mới mong có tầm "sánh vai với các cường quốc năm châu" được. 2- Bậc học phổ thông, có chương trình tiên tiến, sao cho đảm bảo khuyến khích mọi người, mọi tầng lớp có thể học được và muốn được học. Bỏ các đợt thi tập trung thay vào đó là hệ thống kiểm tra liên tục, bất cứ khi nào mà người học cảm thấy đủ kiến thức đều có thể đăng ký để kiểm tra, sau khi đủ điều kiện thì cấp chứng chỉ hoặc bằng tốt nghiệp. 3- Một ý tưởng "điên rồ": Không nhất thiết cứ phải học hết phổ thông mới được học cao hơn. Nếu ai đó có khả năng học nhảy cóc thì cũng được chấp nhận , miễn là người đó có thực tài và qua được các bài kiểm tra để xác định khả năng thực của người đó.
Email: tritranguyen@ymail.com
Tieu de: Cải cách giáo dục trước hết vẫn là người thày.
Noi dung: Đọc bài của Kim Dung tôi thấy cách tiếp cận vấn đề là phù hợp với VN. Tuy nhiên vấn đề người thầy, nhân tố trọng yếu trong giáo dục chưa được đề cập đến. Hãy nhìn lại lịch sử, truyền thống dân tộc và những biến đổi trong cơ chế mới ảnh hưởng đến giáo dục để xem xét phương pháp tiếp cận cho cải cách giáo dục nước nhà, đừng để thời gian trôi đi, tiền vứt qua cửa sổ mà thầy vẫn khổ, học sinh vẫn dốt, khoa học công nghệ và dân trí không được nâng cao.
Ho ten: Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Dia chi: Kiên Giang
Tieu de: Cần thay đổi nhân sự để đổi mới GD Việt
Noi dung: Giáo dục của Việt
Ho ten: Không nêu tên
Noi dung: Mọi cải cách giáo dục sẽ thất bại nếu môi trường chung cho giáo dục không được thay đổi. Ví dụ những suy đồi trong lối sống, trong xã hội không được giảm thiểu thì đừng mong cải cách thành công. Nếu cơ chế chấp nhận bằng giả hay bằng thật học giả thì không thể có giáo dục thật có chất lượng. Nếu nền kinh tế và quản lý xã hội không chọn những người có năng lực và phẩm chất thực sự thì nền giáo dục trước sau cũng lại quay đầu đi xuống.
Ho ten: Hà Đông
Dia chi: Hà Nội
Email: huuthottncydqs@...
Tieu de: Đổi mới cơ chế quản lý.
Noi dung: Tôi rất đồng tình với những trăn trở đầy tâm huyết của tác giả, đặc biệt nhấn mạnh vai trò của đổi mới cơ chế quản lý trong cải cách giáo dục. Đương nhiên, để thu được kết quả cần đổi mới về cơ chế quản lý một cách toàn diện, chứ không riêng giáo dục. Vì giáo dục không tách rời với toàn bộ xã hội. Một yếu tố quan trọng khác để thu được kết quả trong CCGD là phải chọn được người có đủ tài đức để làm "nhạc trưởng". Hy vọng những ý kiến mà tác giả đưa ra sẽ được người có trách nhiệm lắng nghe và triển khai trong thực tế, nhưng bản thân tôi không có nhiều lạc quan để hy vọng về khả năng này.
Ho ten: Nguyễn Viết Hiện
Dia chi: TP Hải Dương
Email: nviethien@...
Tieu de: Giải pháp
Noi dung: Bài báo của chị Kim Dung được dư luân những người làm giáo dục và những người quan tâm đến giáo dục rất đồng tình .Đây là một bài báo rất sát với thực tế mà các nhà quản lý giáo dục cần nhìn thẳng vào sự thật để đánh giá thực trạng của giáo dục nước nhà .Chúng tôi tin rằng nếu cách nhìn nhận của Bộ GD và ĐTcũng như của tác giả Kim Dung thì hữu ích cho nền giáo dục nước nhà biết mấy!
Ho ten: Hoang
Email: thachmaihoang1979@...
Tieu de: Vẫn phải cải cách mặc dù nhiều người không thích.
Noi dung: Tôi thấy cải cách là từ mà năm nào ngành giáo dục cũng dùng đến. Vấn đề là các biện pháp tổng thể để sửa và thay mới hệ thống cũng cần ít nhất 4 năm (bằng với đào tạo ra một cử nhân sư phạm). Chưa thể thay hoàn toàn nội dung giáo dục phổ thông vì hai lý do: 1) Cơ sở vật chất chưa đủ và chưa đồng bộ. Vì vậy giải pháp phải là huy động vốn như tăng học phí, tăng xin tài trợ từ doanh nghiệp. 2) Trình độ giáo viên thấp, thường học thuộc lòng một quyển sách làm chuẩn rồi kiếm cơm cả mấy chụcnăm, tâm lý ngại thay đổi. Vì thế nếu có tăng lương gấp 4 lần thì đa số (không phải tất cả) vẫn dựa dẫm vào sách giáo khoa mà thôi. Ở Mỹ bậc phổ thông không có sách giáo khoa (các bạn đừng ngạc nhiên). Để làm được hai việc trên thì tất nhiên là phải thay đổi cơ chế quản lý để tiền của không bị thất thoát và có thể tuyển, đào tạo được thầy cô giỏi. Hiện nay "nghề" của giáo viên phổ thông là chỉ việc học thuộc lòng sách (đa số, không phải tất cả), rất an nhàn và so với nhiều nghề trong xã hội kém cạnh tranh hơn. Vì vậy người giỏi không có chỗ đứng


