Tin văn hoá trên các báo ra ngày 6/9
09:02' 06/09/2004 (GMT+7)

1.500 cuốn sách cổ và cuộc di cư của người Dao 

2.NS Quốc Tuấn: Khán giả vẫn chúc bia Thi và ông trưởng thôn 

3.DV Thanh Thuý: Vẫn chờ đợi... 

4.NSƯT Thành Lộc: ''Tôi không có tham dự liên hoan...'' 

5.Phát huy bản sắc dân tộc trong nghệ thuật múa hiện đại

Trang sách cổ vừa sưu tầm được
500 cuốn sách cổ và cuộc di cư của người Dao

TS. Trần Hữu Sơn Sau 3 năm triển khai dự án "Sưu tầm kiểm kê kho sách cổ người Dao", các cán bộ nghiên cứu Sở Văn hoá - Thông tin - Thể thao Lào Cai đã lặn lội khảo sát 121 làng người Dao, bước đầu sưu tầm được 500 cuốn sách cổ, lên danh mục các sách cổ hiện còn lưu giữ ở 80 làng thuộc huyện Bảo Yên, Bảo Thắng, Mường Khương, thị trấn Sa Pa và thị xã Lào Cai.

Trang sách cổ vừa sưu tầm được. Trong số sách cổ đã sưu tầm và kiểm kê có tới 68% là các bộ kinh thư, các sách về tôn giáo tín ngưỡng, phong tục tập quán. Sách văn học tuy chiếm một tỉ lệ nhỏ (22,8%) nhưng có giá trị quan trọng. Bên cạnh một số dân ca (nhất là dân ca giao duyên) được những người biết chữ cổ chép lại còn khá nhiều tập truyện văn học, bao gồm một số bộ tiểu thuyết cổ của Trung Quốc. Đặc biệt, từ trước đến nay các nhà nghiên cứu nước ta mới chỉ sưu tầm được 2 truyện thơ người Dao thì riêng trong dự án này đã tìm thấy 23 truyện thơ lần đầu tiên được phát hiện ở vùng người Dao như: "Hàn Bằng", "Đàm Thanh", "Bát Nương", "Lâu Cảnh", "Trạng Nghèo", "Đô Nương truyện", "Đặng Nguyên Huyện truyện", "Bá Giai truyện", "Thần sắt ca"... Trong số đó, truyện thơ kể về hành trình tìm đất vất vả của người Dao chiếm số lượng nhiều hơn cả (40%). Một số truyện tuy có chủ đề khác nhưng trước khi đề cập đến nội dung chính cũng kể về cuộc hành trình của người Dao.

Người Dao có nguồn gốc xa xưa ở đảo Hải Nam (Trung Quốc), hiện có 620.538 người Dao ở Việt Nam. Trong 7 nhóm người Dao ở VN thì ở Lào Cai có 3 nhóm: Dao Tuyển, Dao Nga Hoàng và Dao Làn Tẻn (còn gọi là Dao chàm). Trước đây, chưa có nhiều tư liệu nghiên cứu về người Dao ở VN nói chung và người Dao ở Cao Bằng nói riêng, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng người Dao di cư sang VN từ thời Lý và chỉ có một đợt di cư lớn. Song với nguồn sách cổ ta sưu tập được vừa qua, bức tranh lịch sử người Dao đã hiện lên rõ nét và xác thực hơn. Theo đó, người Dao bắt đầu di cư sang VN khoảng thời Lê (vào khoảng cuối thế kỷ 17). Để đến được đất VN, miền đất như được mô tả trong một tín thư của người Dao là nơi "quả bí ngô to như cái thúng, bắp ngô to như con lợn con, vua nước Nam rất quý hiền nhân", người Dao đã phải trải qua cuộc hành trình muôn phần gian khổ vượt biển, vượt núi, vượt sông. Giờ đây, người Dao định cư ở núi, nhưng cuộc hành trình vượt biển này đã in dấu trong nhiều phong tục, nghi lễ của người Dao và được ghi lại rất tỉ mỉ trong sách cổ.

Người Dao di cư sang nước ta theo nhiều đợt, trước hết đã xác định được 3 tuyến chính. Nhóm di cư sớm nhất là những người Dao Tuyển đi từ đảo Hải Nam, qua Phòng Thành, tới Bắc Giang. Tới đây, họ di chuyển theo các hướng khác nhau. Hướng thứ nhất, theo sông Lô tới Hà Giang, nay gọi là người Dao áo dài. Nhóm thứ hai, theo sông Chảy tới Lào Cai, nay gọi là Dao Tuyển. Hướng thứ 3, ở lại vùng Nga Hoàng (Yên Lập - Yên Phúc) một thời gian, sau đó di chuyển tới Văn Chấn, rồi Văn Bàn (giáp giới 2 tỉnh Yên Bái - Lào Cai hiện nay). Nhóm này nay còn gọi là người Dao quần chẹt.

Ở Lào Cai, ông Nguyễn Liễn - nguyên là chuyên viên bảo tàng tỉnh - đã sưu tầm được một số bảng văn có giá trị là "Quá sơn bảng", ghi rõ nguồn gốc lịch sử, quá trình thiên di của người Dao. Dựa vào các bảng văn này sẽ nghiên cứu được hướng di cư, lịch sử di cư của người Dao, cũng như tinh thần đấu tranh bất khuất của đồng bào. Đặc biệt, nhờ sự giúp đỡ của nghệ nhân Hoàng Sĩ Lực, Đặng Văn Thưởng, Chảo Văn Quẩy, Đặng Văn Quẩy, các cán bộ sưu tầm phát hiện 8 tín ca cổ của người Dao. Trong đó có một số cuốn ghi rõ năm di cư, lịch sử khởi nghĩa của người Dao. Trong sách cổ "Bàn Nhị Quân" kể lại cuộc khởi nghĩa của người Dao ở Bảo Hà, Lục Yên, Bắc Hà chống giặc Cờ vàng Hoàng Sùng Anh và bọn quan lại cai trị hà khắc của triều Tự Đức ở vùng Châu Thuỷ Vĩ, Văn Bàn. Nghiên cứu một số sách cổ "Quốc Vương ca" sưu tầm ở xã Nậm Đét huyện Bắc Hà, ta thấy rõ diễn biến chủ yếu của cuộc khởi nghĩa Giáp Dần tháng 10.1914 tại Lục Yên (Yên Bái) và Bảo Yên (Lào Cai) chống Pháp xâm lược.

Trong thời gian tới, Sở Văn hoá TT-TT Lào Cai sẽ giới thiệu 30 tác phẩm văn học của người Dao. Hy vọng đây sẽ là bước phát triển mới trong đề án "Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá các dân tộc" do UBND tỉnh Lào Cai đang chỉ đạo ngành VHTT thực hiện.

(Theo Nhân Dân) 

Về đầu trang 

NS Quốc Tuấn
Nghệ sĩ Quốc Tuấn: Khán giả vẫn chúc bia Thi và ông trưởng thôn...

Quốc Tuấn đóng phim truyền hình không nhiều, nhưng là người để lại nhiều ấn tượng với khán giả trên chương trình phim truyện Văn nghệ chủ nhật suốt 10 năm qua kể từ khi nhân vật Thi-một người lính đầy nghị lực trong bộ phim Những người sống bên tôi- xuất hiện.

Khi vào vai Thi, Quốc Tuấn đã tốt nghiệp Khoa Diễn viên Trường Đại học Sân khấu- Điện ảnh được năm năm-khoảng thời gian đủ để chán nản, mỏi mệt, thậm chí nghi ngờ cả mình khi chọn nghề diễn viên. Trong năm năm ấy, anh phải làm đủ việc để kiếm sống: đi đánh đàn guitar ở vũ trường, làm phát thanh viên cho Đài Phát thanh - Truyền hình Hà Nội... Mặc dù đã được nhận về Nhà hát Tuổi Trẻ nhưng suốt ngày cũng chỉ vào các vai loăng quăng chạy cờ, trong khi các đồng nghiệp tiếng tăm đâu đã vào đấy. “Lúc đó, tôi định đi xuất khẩu lao động để chuyển hẳn nghề. Nhưng may mắn, tôi được gặp Thi...”.

Thi - Bước ngoặt sự nghiệp.- Thi-một anh phó mộc, đi bộ đội, trở về quê ôn thi đại học và từng bước khẳng định mình trong sự nghiệp, được đi học nước ngoài, trở thành tiến sĩ. Bên cạnh nghị lực vươn lên trong cuộc sống, Thi phải đối đầu với bi kịch gia đình. Đọc kịch bản, Quốc Tuấn mê mẩn nhân vật mà mình sắp hóa thân, nhưng đối mặt với một bộ phim dài 10 tập, anh thấy sức ép khá nặng. Có thời điểm anh phải diễn từ 7 giờ 30 sáng ngày hôm trước đến 5 giờ sáng hôm sau, về chợp mắt một lúc, 10 giờ lại tiếp tục đi quay ở cánh đồng Mai Dịch.

Trước khi vào vai Thi, Quốc Tuấn đã có mặt ở một bộ phim khá xúc động: Cuốn sổ ghi đời, nhưng vì là vai thứ và lại là phim ngắn tập nên anh chưa được khán giả biết đến. Từ khi Thi xuất hiện, cuộc sống của Quốc Tuấn có nhiều thay đổi. Người ta thấy ngày ngày có một anh chàng nào đó quen quen chở cả trăm phong thư ra bưu điện nhét lia lịa vào thùng thư. “Tính cả tiền tem, phong bì và mỗi bức hình gửi kèm, tôi... “lõm” nhưng ngày đó tôi vui lắm. Bên cạnh niềm vui, tôi lại canh cánh một nỗi lo, là sau Thi, tôi sẽ tiếp tục khẳng định mình như thế nào để đồng nghiệp không phải đánh giá mình là một người ăn may”.

Tiếp tục “bơi” với phim truyền hình qua một vài vai, ví dụ như thầy Minh trong một bộ phim cũng khá nổi tiếng 12 A và 4 H, một vai phản diện nhưng cơ hồ như anh vẫn chưa làm mới được mình hoặc đặt bên cạnh sự đối sánh với Thi, thì thấy nhạt. Trong thời gian này anh có vào vai một bộ phim của đạo diễn Phi Tiến Sơn, Người cha nhu nhược, dẫu thể hiện chưa “mùi” lắm nhưng đủ tự tin để đạo diễn này mời vào vai trưởng thôn trong phim Người thổi tù và hàng tổng. Cũng như thời đọc kịch bản Những người sống bên tôi, kịch bản phim Người thổi tù và hàng tổng lại “mê hoặc” Quốc Tuấn một lần nữa. Vai trưởng thôn Lê Trung Kiên là một vai hài hước, có phần láu tôm láu cá nên Quốc Tuấn đã tìm được đất diễn và có cơ hội khẳng định “thương hiệu” mình qua sự thể hiện khác sau thành công ở vai Thi.

Trai Hà thành đóng giả trai làng.- Có thể nói, Thi và trưởng thôn Lê Trung Kiên là hai vai diễn “để đời” với Quốc Tuấn và cũng là những vai diễn thành công nhất trong những thành công đếm trên đầu ngón tay ở các phim truyện của chương trình Văn nghệ Chủ nhật suốt 10 năm qua. Khán giả biết đến một Quốc Tuấn với những vai kiểu “nhà quê” chân chất. Quốc Tuấn tự nhận thấy sức hấp dẫn ở những vai diễn kiểu như vậy của mình, không phải là dáng vẻ hiền khô và “hơi trai làng” của chàng trai Hà thành này, mà chính là ở cách sống của mình. “Tôi ngoài đời có sao sống vậy, nghĩ sao nói vậy, nên dễ vào những vai chân quê chất phác. Hơn nữa, trong chiến tranh, gia đình tôi phải đi sơ tán, tôi đã lớn lên ở làng quê và tôi đã rất yêu văn hóa làng của người Việt Nam, vì thế, tôi luôn đặt mình là “trai làng” khi vào vai diễn”. Nhiều người khá ngạc nhiên, tại sao Quốc Tuấn là “trai Hà thành” lại dễ vào các vai “trai làng” như vậy, trong khi đó có một thực tế không thể phủ nhận là một số diễn viên trẻ hiện nay dù xuất thân từ nông thôn nhưng khi “về quê” diễn lại thường không diễn được bởi “hương đồng gió nội bay đi ít nhiều”.

Mười lăm năm chinh phục nghệ thuật thứ bảy, Quốc Tuấn mới chỉ đóng trên 20 phim truyền hình và bảy phim truyện nhựa. Khán giả nhớ anh ở phim truyền hình nhiều hơn. Theo cách lý giải của anh thì những phim truyện nhựa anh từng đóng, kịch bản thường không ấn tượng. Cũng vì vậy, Quốc Tuấn quan niệm sự thành công của diễn viên phần lớn nhờ vào yếu tố kịch bản. “Đóng phim truyền hình cát sê không cao, nhưng tôi không đặt vấn đề tiền lên làm đầu. Nếu đọc kịch bản thấy không hấp dẫn, tôi sẽ từ chối”.

Vì con, bố tiếp tục đóng phim.- Thời đóng xong vai Thi, Quốc Tuấn hì hục viết thư trả lời khán giả hâm mộ có ngày đến cả trăm lá mà chưa nghĩ tới chuyện phải có một cô đi rửa ảnh hay đi chuyển thư hộ. Niềm vui với vai diễn đầu tiên thành công cũng chưa nghĩ đến một bóng hồng để chia sẻ bởi “sự nghiệp còn dài”. Nhưng thời đó giờ đã qua. Giờ đây, anh có thể chơi với con trai hai tuổi của mình tới khi nào con ngủ mới nghĩ đến công việc. “Bốn mươi tuổi tôi mới lập gia đình, khi sự nghiệp đã có chút tiếng tăm. Tôi đặt gia đình và sự nghiệp song song nhưng tình yêu với con là số một. Có thời bạn bè khuyên nên lấy vợ kẻo muộn, tôi chưa chịu vì tôi nghĩ có lấy chắc cuộc sống sẽ chẳng khác là mấy. Bạn tôi bảo khi nào có con sẽ khác. Càng ngày tôi càng thấy bạn tôi nói đúng. Tôi đang hạnh phúc”.

Quốc Tuấn tâm sự, bao năm qua, khán giả gặp anh đâu cũng chúc bia Thi và ông trưởng thôn. “Tôi rất vui, nhưng cũng lắm phiền phức. Có lần ngồi vào bàn ăn chưa kịp ăn gì đã gần chục người khách lại chúc bia. Nhiều hôm về nhà say xỉn”. Và anh nhận thấy niềm hạnh phúc đó không phải diễn viên nào cũng có được. “Chỉ có điều, không lẽ khán giả chỉ mãi uống bia với Thi và trưởng thôn? Đó là điều không tưởng. Tôi sẽ tiếp tục chặng hành trình của mình. Tôi vẫn là anh chàng nhà quê trên phim giàu tự ái, nên không muốn con mình sau này nhìn thấy bố nó chỉ biết gặm nhấm sự thành công trong quá khứ. Vì con, tôi tiếp tục cố gắng”.

(Theo NLĐ)

 

 

Về đầu trang 

DV Thanh Thuý
Diễn viên Thanh Thúy Vẫn chờ đợi...

Nét mặt hồn nhiên, ánh mắt sáng trong, má lúm đồng tiền và nụ cười rạng rỡ, cô sinh viên Trường Cao đẳng Sân khấu – Điện ảnh TPHCM Thanh Thúy sớm được các đạo diễn mời tham gia khá nhiều bộ phim, vở kịch. Gần đây, qua một số tác phẩm, Thanh Thúy đã khẳng định khả năng diễn xuất…của mình.

- PV: Sinh viên sân khấu, điện ảnh hồi này đi diễn nhiều có bị ảnh hưởng đến chất lượng học tập?

- Diễn viên Thanh Thúy: Với Thúy thì chuyện nào ra chuyện đó và ăn thua là do mình sắp xếp công việc cho hợp lý, không nên quá ôm đồm. Khi tham gia vai bác sĩ Vân trong phim “Blouse trắng” của TFS, Thúy đã hoãn hết hai năm học. Nhưng Thúy không cảm thấy tiếc cho quyết định như thế của mình mà ngược lại còn rất vui. Nhờ vai diễn này mà Thúy học tốt hơn và được mời tham gia tiếp các phim: “Bão rừng”, “Mùa sen”, “Lưới trời”, “Giải phóng Sài Gòn”, “Giống như sự tích trầu cau”… Cho nên sắp xếp được thời gian, đi diễn sẽ có lợi nhiều hơn có hại, vừa học lý thuyết vừa thực hành sẽ bổ khuyết cho nhau rất nhiều!

- Cơ duyên nào đưa Thúy đến với sân khấu kịch?

- Lúc sân khấu kịch Phú Nhuận diễn vở “Chí Phèo”, chị Cát Phượng (vai Thị Nở) bị bận công việc không diễn nên diễn viên Vân Anh (vai Bà Út) được “đôn lên” vai Thị Nở và Thúy được mời thế vai Vân Anh, sáng tập tối diễn. Nhưng được khán giả chấp nhận và từ đó Thúy mê kịch luôn…

- Có những kỷ niệm nào làm Thúy nhớ nhất?

- Thúy nhớ nhất là lần đi quay phim “Mùa sen” của Hãng phim TFS tại Đồng Tháp. Khi Thúy và diễn viên Công Dũng đang thực hiện cảnh quay tại một hồ sen thì bỗng có tiếng một người đàn ông vừa chạy lại hướng của mình vừa la “Lội vậy hư sen của tôi hết còn gì!”, mà trên tay của ông cầm vật gì đó giống dao phay lắm nên tụi này kéo nhau chạy muốn hụt hơi. Khi ông dí đến gần, tụi này nhìn lại mới thấy trên tay ông chỉ cầm … đôi dép. Ông quát tháo “Sao lại lội xuống hồ sen của tôi? Mướn hồ sen bên kia thì chỉ lội bên đó để quay phim thôi chớ!”. Hôm đó mình mẩy đầy sình bùn, đến mấy ngày sau mà vẫn còn vương hương… bùn!

- Gần đây khán giả biết đến Thanh Thúy với vai Hồng trong vở “Chuyện lạ” của Nhà hát kịch Sân khấu nhỏ…

- Để vào nhân vật Hồng của “Chuyện lạ”, Thúy phải tập luyện rất nhiều, học từ cảm giác, cách đi đứng của một cô gái say rượu đến điệu nhảy Cracket. Với điệu nhảy này, Thúy luyện ròng rã hơn 1 tháng, vào những giờ nghỉ trưa, nhưng cũng nhờ đó mà Thúy thích điệu nhảy này và hiện nay mỗi tuần Thúy dành 4,5 buổi để tập cùng nhóm bạn và phải thay đổi sở thích của mình từ đi giày cao gót sang giày… đế thấp! Với vai Hồng, Thúy được các cô chú, anh chị trong nghề và đông đảo khán giả khen ngợi làm khích lệ tinh thần nhiều. Nếu nói là vai diễn mà Thúy thích lắm thì vai Hồng vẫn chưa phải. Thúy đang chờ đợi đưa lên sàn tập một vai diễn mà Thúy rất thích đó là vai công chúa Salômê trong vở kịch cùng tên mà nhà hát kịch sân khấu nhỏ đang dự tính dàn dựng.

- Thúy có cảm nhận gì về khán giả hiện nay?

- Cùng lúc diễn ở hai sân khấu kịch Phú Nhuận và Nhà hát kịch Sân khấu nhỏ Thúy thấy khán giả đang có xu hướng thích xem những vở giải trí vui vẻ, có tiếng cười thâm thúy, ý nghĩa sâu sắc.

- Những vai diễn của Thúy trên phim ảnh thường khắc họa chân dung các cô gái hiền thục, yếu đuối, thôn nữ?

- Thì tại… kịch bản là như thế và đạo diễn mời Thúy tham gia nên phải làm tròn vai chứ! Chắc tại Thúy nhỏ con, lại để tóc dài… nhìn có vẻ yếu đuối thiệt!

- Giữa điện ảnh, kịch nói, tấu hài, Thúy thấy lĩnh vực nào khó nhất và thích nhất?

- Mỗi lĩnh vực đều có những đặc thù riêng, có khó, có dễ. Là một diễn viên thì điều quan trọng là làm sao mình phải thích ứng được và dung hòa các yếu tố để hóa thân vào nhân vật mình thể hiện. Hiện nay Thúy đang muốn hóa thân, thử sức mình. Rồi mai này, Thúy sẽ chọn cho mình một lối đi mà mình thích nhất…

- Các “sao” mới lên thường rất chú trọng đến trang phục như “chơi” hàng hiệu, hoặc đặt hàng độc quyền với các nhà thiết kế thời trang…

- Thúy chỉ chú trọng trang phục cho vai diễn của mình và giá dù có đắt cỡ nào cũng dám tự bỏ tiền túi ra tậu về. Chẳng hạn như trang phục của Hồng trong “Chuyện lạ” tốn khoảng 5 triệu đồng, trang phục cho Đào - “Lẵng hoa tình yêu” (ngày 6-9 này bấm máy) mới sơ sơ cũng hết 1,5 triệu đồng… Còn trang phục đời thường, Thúy thích quần jean, áo thun, áo sơ mi…

- Theo Thúy, điểm mạnh, điểm yếu của diễn viên trẻ?

- Điểm mạnh là… còn trẻ. Còn điểm chưa mạnh là chưa có va chạm nhiều với cuộc sống, cũng như kinh nghiệm trên sàn diễn.

- Còn chuyện giải trí của Thúy?

- Lúc này, thời gian rảnh Thúy tranh thủ đi học ngoại ngữ để hỗ trợ cho công việc của mình khi cần đến. Ngoài ra, Thúy chỉ thích đọc truyện, xem phim, thỉnh thoảng đi uống cà phê với bạn bè và cùng nhau đi hát karaoke.

- Thi đậu cả hai trường du lịch và sân khấu điện ảnh, nhưng lại quyết định dấn thân vào sân khấu điện ảnh, có lúc nào Thúy muốn chọn lại?

- Nếu bây giờ được chọn lại các nghề khác mà trừ nghề diễn viên, thì thà rằng Thúy chọn nghề… nội trợ.

(Theo SGGP)

 

Về đầu trang 

NSƯT Thành Lộc: "Tôi không có hứng tham dự liên hoan..."

Liên hoan Sân khấu toàn quốc thể loại kịch nói sắp diễn ra tại Hải Phòng vào tháng 10/2004, nhưng hầu như các đơn vị kịch phía Nam đều... im re. Ngay cả một đơn vị xã hội hóa khá mạnh như IDECAF cũng cho biết sẽ không tham gia. Chúng tôi đã trao đổi với NSƯT Thành Lộc - Phó giám đốc phụ trách nghệ thuật của Sân khấu kịch IDECAF.

* Xin anh cho biết lý do IDECAF không dự liên hoan?

- Thứ nhất là xa quá, chúng tôi không đủ kinh phí để cơm ghe bè bạn ra đó. Đơn vị nhà nước thì còn được cấp ngân sách, chứ tụi tôi phải bỏ tiền túi ra, cũng ngại lắm. Thứ hai, tôi thấy những cuộc liên hoan gần đây không phản ánh đúng thực tế đời sống của sân khấu, nên không hào hứng tham gia. Đời sống sân khấu ở phía Bắc và phía Nam khác nhau xa, như vậy sẽ chấm điểm theo tiêu chí nào? Chúng tôi quan niệm, sân khấu phải có sức sống, sáng đèn hằng đêm, nghệ sĩ sống được bằng nghề, chứ 4 năm kiếm cái huy chương vàng đem về treo thôi thì cũng bằng không. Thậm chí tôi nói thẳng là hình như một số đồng nghiệp vẫn chưa công nhận những thành quả của sân khấu xã hội hóa phía Nam, nên tốt nhất chúng tôi không có mặt.

* Nhưng sân khấu cả nước cũng nên có một cuộc thi để chọn lựa chứ?

- Nói thiệt, tôi ghét chữ "thi" lắm. Vì lịch sử hội diễn sân khấu Việt Nam từ trước tới nay vẫn có những gút mắc hậu trường, dễ mích lòng. Nên tổ chức thành festival thì hay hơn. Ở đó, anh em có thể trao đổi, thảo luận về nghề nghiệp, học hỏi lẫn nhau. Nghệ thuật là vô cùng, khó mà so sánh.

* Dù vậy, các anh vẫn tham gia Liên hoan Sân khấu Mùa thu của khu vực phía Nam vào năm tới?

- Liên hoan Sân khấu Mùa thu thì chúng tôi nhiệt tình tham gia. Bởi có sự đồng cảm của anh em, và liên hoan này phản ánh đúng thực tế đời sống sân khấu. Tôi thích nhất tiêu chí của liên hoan vừa rồi, là "Hãy mang đến vở mà bạn đang diễn", nghĩa là vở đang "hot" nhất. Dù được giải hay không thì vở đó vẫn có sức sống thực.

* Lần này các anh có chuẩn bị cho một cuộc "chơi" thỏa sức hay không?

- Ồ, thích chơi lắm chứ. Nhưng để coi tiêu chí của liên hoan như thế nào. Và coi anh em các đoàn khác có cùng "chơi" với mình không. Bởi cuối cùng vở làm ra cũng phải làm cho sống được, chứ không đem cất kho, tiền túi bỏ ra mà. Hy vọng anh em các đoàn nếu không dự liên hoan toàn quốc thì dự Liên hoan Sân khấu Mùa thu cũng "chơi" một trận cho thỏa cái máu nghề!

(Theo Thanh Niên)

 

Về đầu trang 

Phát huy bản sắc dân tộc trong nghệ thuật múa hiện đại

Hiện nay, trên các sàn diễn, nhất là các chương trình ca nhạc, chúng ta thường được chứng kiến những màn múa người ta thường gọi là múa phụ hoạ. Do bị lạm dụng quá nhiều, nghệ thuật múa, qua cách gọi ấy không thể hiện đúng vẻ đẹp của nó. Có điều, so với một số bộ môn nghệ thuật khác, như âm nhạc, mỹ thuật, nghệ thuật múa dường như ít sôi động. Và qua những ý kiến bàn bạc trên báo chí, trong các cuộc hội thảo cũng có không ít cách nhìn nhận đánh giá khác nhau.

Điều được lưu tâm nhất là quan niệm về tính truyền thống và hiện đại của nghệ thuật múa, đặt trong tiến trình xây dựng nền văn nghệ Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Theo nghệ sĩ nhân dân Nguyễn Công Nhạc, Phó tổng thư ký Hội nghệ sĩ múa Việt Nam thì trong lĩnh vực múa, bản sắc dân tộc không đòi hỏi tính cụ thể của hình thức động tác mang dạng nguyên mẫu mà quan trọng là thể hiện yếu tố hơi thở, tiết tấu toát lên thế giới tâm linh của con người dân tộc mình. Sự tiếp thu truyền thống không chỉ ở mảng múa dân gian mà cả với mảng múa balê. Vẫn theo ông Nguyễn Công Nhạc thì nghệ thuật múa dân gian Việt Nam có bề dày đáng tự hào nhưng nhìn chung chưa được khai thác một cách sáng tạo. Yêu cầu của sự phát triển là tạo nên diện mạo mới cho múa Việt Nam, hoà quyện giữa múa cổ điển và hiện đại. Múa cần phải có hồn dân tộc, rõ nét hơn về nội dung thể hiện để quần chúng hiểu được một cách tương đối. Sự thật là thưởng thức một tác phẩm múa, đòi hỏi người xem phải có kiến thức thẩm mỹ tối thiểu. Ngôn ngữ múa là ngôn ngữ đặc trưng của động tác, của hình thể. Cái khó là qua ngôn ngữ đặc trưng ấy tìm ra phương thức phù hợp với cách nghĩ, cách cảm, của người Việt Nam. Không phải ngẫu nhiên mà một số biên đạo trẻ, dù rất say mê tìm tòi sáng tạo, nhưng đôi khi, có người vẫn chưa mạnh dạn dùng kỹ thuật múa hiện đại ở Việt Nam.

Về phía khán giả, nhất là lớp trẻ, có một thực tế không thể phủ nhận là hiện nay, người xem múa truyền thống không nhiều. Những điệu múa minh hoạ cho hát thường là sôi động, nếu đưa nhạc dân tộc vào thường lạc điệu. Chạy theo thị hiếu thị trường thì khó làm ra một tác phẩm múa mang đậm tính dân tộc. Đây quả là một sự thử thách nghiệt ngã cho những người làm nghệ thuật múa. Đúng như nhận xét của nghệ sĩ ưu tú Lê Ngọc Cường khi trả lời câu hỏi vì sao múa khó tồn tại độc lập trong những tác phẩm thể hiện khi đến với công chúng và rất ít tạo được ấn tượng đối với xã hội. Theo ông, có hai cách hiểu: Một là, đối với những người làm nghề, mặc dù cũng đau đáu tìm cách đổi mới, cách tân nhưng xem ra vẫn chưa tìm được tiếng nói chung trong cảm nhận của xã hội hiện tại; Hai là, về phía công chúng chưa thật sự hiểu và chia sẻ với nghệ thuật múa. Đây chính là định hướng thẩm mỹ của công chúng khi tiếp nhận nghệ thuật múa.

Chúng tôi vừa nói đến ý kiến của một số biên đạo và diễn viên múa về vấn đề định hướng thẩm mỹ của người xem. Vậy người xem nói gì? Những ý kiến của khán giả tuy có khi trái ngược nhưng lại gặp nhau ở một điểm: người ta đòi hỏi tác phẩm múa hiện đại không chỉ đơn thuần là chình độ kỹ thuật mà còn là tiếng nói, cốt cách của dân tộc, phục vụ cho thời đại, cho nhân dân. Lạm dụng phong cách của nước ngoài nhiều quá sẽ không phù hợp với cách cảm, cách nghĩ của người Việt Nam (điều này thấy rõ nhất trong các màn múa phụ hoạ trong các chương trình ca nhạc). Trái lại thiếu sự sáng tạo, không chú ý đến những đòi hỏi của lớp khán giả mới, khán giả trẻ trong thời đại sôi động này thì cũng khó hấp dẫn. Đúng như nhận xét của nghệ sĩ nhân dân Đặng Hùng "múa hiện đại không phải là con số cộng giữa múa dân tộc và ba lê".

(Theo VOV)

 Về đầu trang

Gửi tin qua Mobile Gửi tin qua E-mail In tin Gửi phản hồi