,
221
5083
Tác phẩm
tacpham
/vanhoa/tacpham/
751919
Cao Hành Kiện
1
Article
443
Văn hoá
vanhoa
/vanhoa/
,
Các bậc thầy văn chương thế giới:

Cao Hành Kiện

Cập nhật lúc 18:14, Thứ Năm, 05/01/2006 (GMT+7)
,

(VIetNamNet) - Linh Sơn được đánh giá là "tác phẩm mang tính toàn cầu, ghi lại những đắng cay của con người trong thế giới hiện đại", vừa giống nhật kí, vừa như triết luận, có lúc như chuyện tình, có khi mang tính ngụ ngôn.

Soạn: AM 669765 gửi đến 996 để nhận ảnh này
Nhà văn, kịch tác gia Cao Hành Kiện

Cao Hành Kiện được trao giải Nobel cho tiểu thuyết Linh Sơn, trở thành nhà văn gốc Trung Quốc đầu tiên đoạt giải thưởng này. Với nỗ lực khôi phục tinh thần thuần khiết và tính chất Trung Quốc của tiếng Trung, ông đã tạo nên một sự nghiệp mang giá trị thế giới. Những suy tư cay đắng và sự tinh tế của Cao Hành Kiện đã mở ra những nẻo đường mới cho tiểu thuyết và kịch nghệ Trung Quốc, tạo nên những giá trị mang tính phổ quát nhân loại.

Bố làm việc ở ngân hàng, mẹ là nghệ sĩ, Cao Hành Kiện sinh ra khi thành phố quê hương ông bị quân phiệt Nhật Bản chiếm đóng. Từ năm 1957 đến năm 1962 ông học khoa tiếng Pháp trường Đại học Ngoại ngữ Bắc Kinh; sau khi tốt nghiệp ông làm việc năm năm tại tạp chí Trung Hoa tái thiết với tư cách là cán bộ dịch thuật tiếng Pháp. Từ năm 1967, ông làm cán bộ phiên dịch của Hội Nhà văn Trung Quốc.

Lúc này Cao Hành Kiện đã bắt đầu viết nhưng vào thời "Cách mạng văn hoá" ông phải đốt hết bản thảo và bị bắt đi cải tạo lao động một thời gian. Từ năm 1981 Cao Hành Kiện chuyển sang làm việc ở Đoàn Nghệ thuật Nhân dân với tư cách là người sáng tác kịch bản; ông viết rất nhiều, nhưng trước năm 1979, các tác phẩm của Cao Hành Kiện bị cấm công bố, chỉ sau cuộc cải cách của Đặng Tiểu Bình một số vở kịch của ông mới được phép dàn dựng và thái độ đối với các tác phẩm của ông cũng ít nhiều thay đổi. Năm 1981, cuốn sách đầu tiên của ông Sơ khảo kĩ thuật tiểu thuyết hiện đại được xuất bản, cùng một số vở kịch như Dấu hiệu báo động, Bến xe buýt, Dã nhân... được dàn dựng; nhưng chỉ vài năm sau các tác phẩm của ông lại bị cấm.

Cao Hành Kiện (Gao Xingjian)

Nhà văn, nhà viết kịch (04/01/1940)

Quốc tịch Pháp gốc Hoa, Giải Nobel Văn học 2000

* Nơi sinh: Cống Châu, Giang Tây (Trung Quốc)

* Hiện sống tại: Paris (Pháp)  

Linh Sơn (1982-1988) là tác phẩm nổi tiếng nhất của ông, kể lại chuyến hành hương của một người đàn ông, được viết dựa trên những ấn tượng từ chuyến đi thực tế của chính tác giả kéo dài 10 tháng, xuyên qua 15.000 km, đi sâu vào thung lũng Tứ Xuyên, trung tâm lục địa Trung Quốc. Linh Sơn được đánh giá là "tác phẩm mang tính toàn cầu, ghi lại những đắng cay của con người trong thế giới hiện đại", vừa giống nhật kí, vừa như triết luận, có lúc như chuyện tình, có khi mang tính ngụ ngôn. Tiểu thuyết thứ hai Kinh Thánh cho một người tiếp tục phát triển chủ đề của Linh Sơn nhưng dễ nắm bắt hơn, viết về các vấn đề trong Đại cách mạng Văn hóa Trung Quốc, trong đó tác giả đóng vai trò như một nhà hoạt động chính trị, một nạn nhân và cả như một nhân chứng bên ngoài.

Năm 1987 Cao Hành Kiện được phép xuất ngoại. Năm 1989 ông bị tước quốc tịch Trung Quốc và toàn bộ tác phẩm của ông bị cấm ở Trung Hoa lục địa; Cao Hành Kiện đến Paris, nhập quốc tịch Pháp, làm rất nhiều việc: vẽ, dịch văn học, làm công tác quản lí, viết tiểu thuyết, kịch, phê bình (chủ yếu bằng tiếng Trung). Các tác phẩm của Cao Hành Kiện đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng như Anh, Pháp, Đức, Thụy Điển... Năm 2000 ông là nhà văn gốc Trung Quốc đầu tiên nhận giải Nobel Văn học.

Ngoài giải Nobel, Cao Hành Kiện còn nhận được 3 giải thưởng văn học của Pháp và Bỉ không chỉ với tư cách là nhà văn, nhà soạn kịch mà còn là một nhà thư pháp, một họa sĩ xuất sắc. Một số tiểu thuyết, truyện ngắn, tiểu luận của Cao Hành Kiện đã được dịch sang tiếng Việt, trong đó Linh Sơn có đến 3 bản dịch (từ tiếng Pháp và tiếng Trung Quốc).

* Tác phẩm:

- Sơ khảo kĩ thuật tiểu thuyết hiện đại (Xian dai xiao shuo ji qiao chutan, 1981), khảo luận [Tiếng Pháp: Premier essai sur les techniques du roman moderne; tiếng Anh: A preliminary discussion of the art of modern fiction].

- Dấu hiệu báo động (Juedui xinhao, 1982), kịch [Signal d' alarme].

- Bến xe buýt (Chezan, 1983), kịch [Tiếng Pháp: Arret de bus; tiếng Anh: The bus stop).

- Linh Sơn (La montague l'Âme, 1990), tiểu thuyết [Soul Mountain].

- Kinh Thánh cho một người (Le Livre d'un homme seul, 1982), tiểu thuyết.

- Dã nhân (L'Homme sauvage, 1985), kịch.

- Hợp tuyển kịch (Collected Plays, 1985), kịch.

- Bờ bên kia (Bỉ ngạn, 1990), kịch [The other side].

- Tuyết tháng Tám (Bát nguyệt tuyết, 1990 ), kịch.

- Bên bờ cuộc sống (Au bord de la Vie, viết năm 1991, công diễn lần đầu năm 1993), kịch.

- Đào vong (Taowong, 1992), kịch [Fugitives].

- Sơn hải truyện (1993), kịch.

- Giữa sống và chết (Shengsijie, 1993), kịch [Between life and death]

- Kẻ miên hành (Le somnamble, viết năm 1993, công diễn lần đầu năm 1999), kịch.

- Bộ tứ cuối tuần (Zhoumou sichongzou, 1996), kịch [Weekend quartet].

- Không có chủ nghĩa (Một nữu chủ nghĩa, 1996), tập tiểu luận.

* Tác phẩm đã dịch ra tiếng Việt:

- Linh Sơn, tiểu thuyết, Trần Đĩnh dịch từ bản tiếng Pháp, NXB Phụ Nữ, 2002; 2003.

- Núi thiêng, tiểu thuyết, Ông Văn Tùng dịch từ bản tiếng Trung, NXB Văn Nghệ TP. HCM, 2003.

- Linh Sơn, tiểu thuyết, Hồ Quang Du dịch từ bản tiếng Trung, NXB Văn Học, 2003

- Truyện ngắn Cao Hành Kiện, Trinh Bảo - Sơn Hải dịch, NXB Công An Nhân Dân, 2004.

- Người thợ giày và cô con gái (truyện ngắn), Trinh Bảo dịch, in trong Truyện ngắn hay thế giới, NXB Thanh Hóa, 2004.

- Mua cần câu cho ông, Chuột rút, Trong công viên, Nguyễn Hồi Thủ dịch, in trong Truyện dịch Đông Tây, NXB Lao Động - Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2004.

- Các truyện: Ông thợ giầy và con gái, Bạn, Tai nạn, in trong Tập truyện của Mạc Ngôn, Giả Bình Ao, Cao Hành Kiện, Lê Bầu dịch, NXB Văn Học, 2004.

- Các vở kịch Trạm xe, Bờ bên kia, Người đi đêm, Trú mưa, Giữa sống và chết, Như Hạnh dịch, đăng trên Tienve.org.

- Cao Hành Kiện. Tác phẩm (gồm tiểu thuyết Kinh thánh cho một người, các truyện ngắn, kịch, tiểu luận của Cao Hành Kiện và các bài viết về Cao Hành Kiện), nhiều người dịch, Nhà xuất bản Công an Nhân dân - Trung Tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây, 2005.

 

Thông cáo của Viện Hàn lâm Thụy Điển

Ngày 12/10/2000

Giải văn chương Nobel năm 2000 tặng thưởng nhà văn Hoa ngữ Cao Hành Kiện cho một trước tác có tầm cỡ thế giới, mang dấu ấn đắng cay trong nhận thức và nét tinh tế của ngôn từ, mở ra nhiều nẻo đường mới cho nghệ thuật tiểu thuyết và sân khấu Trung Quốc.

Tác phẩm của Cao Hành Kiện đã hồi sinh văn chương, từ cuộc tranh đấu của con người cá thể để tồn tại, vượt qua lịch sử những quần thể. Ông đóng vai một khán giả hoài nghi và sáng suốt, không mang tham vọng lý giải cuộc đời. Và cho rằng chỉ gặp tự do trong sáng tác văn học.

Tác phẩm tầm cỡ nhất của Cao Hành Kiện, tiểu thuyết Linh Sơn là một trong những sáng tạo văn học hiếm hoi tự lấy mình làm tham chiếu, chứ không thể đem so sánh với một tác phẩm nào khác. Tác phẩm được kiến trúc trên cảm nghĩ từ những cuộc du hành vào các miền đất sơn cùng thuỷ tận, phía nam và tây nam Trung Quốc, nơi phong tục saman vẫn còn tồn tại dai dẳng cùng với chuyện sơn thuỷ giang hồ, lục lâm thảo khấu, được truyền tụng như sự thật, với những đạo sĩ còn sinh hoạt theo nếp sống hiền triết của tiền nhân. Linh Sơn là xâu chuỗi nhiều chuyện kể, với nhiều nhân vật chính, phản chiếu vào nhau như một mặt kính, gợi ra nhiều diện mạo khác nhau của cùng một cái tôi thống nhất.

Tác giả sử dụng linh động đại danh từ, tạo ra được nhiều biến chuyển linh hoạt trong cách nhìn, buộc độc giả phải thường xuyên lật ngược lật xuôi các lời tâm sự. Phương pháp tiếp cận này bắt nguồn từ những vở tuồng buộc diễn viên, một mặt phải nhập vai, mặt khác phải miêu tả từ ngoại cảnh. Đại từ mày, tao, nóằ biến thành danh từ, được ném vào nội tâm trong những cách ly không ngừng co giãn.

Linh Sơn là câu chuyện hành hương, nhân vật chính lên đường tìm về nguồn cội bản thân, dọc theo mặt phẳng long lanh, phân ranh giữa dự tưởng và đời sống, giữa ảo tượng và hồi ức. Cuộc thảo luận về bản chất kiến thức càng đào sâu càng trở thành một nghi thức luyện tập giải thoát đối tượng và ý nghĩa. Linh Sơn là bản giao hưởng, đan chéo nhiều thể loại, truy tích cội nguồn của thao tác hành văn, nhắc lại niềm mơ ước lớn lao trong tư trào lãng mạn Đức, về một nền thi ca hoàn vũ.

Tiểu thuyết thứ hai của Cao hành Kiện, Nhất cá nhân đích Thánh kinh (Kinh Thánh của một người), vẫn đeo đuổi chủ đề của Linh Sơn, trong lối tiếp cận dễ cảm nhận hơn. Trung tâm tác phẩm là cuộc thanh toán oán thù với những cuồng điên khủng khiếp đã trải qua, dưới bảng hiệu Cách Mạng Văn Hoá tại Trung Quốc. Thành thật, không khoan nhượng, nhà văn đã lần lượt kể lại kinh nghiệm bản thân, trong tư thế một tác nhân chính trị, nạn nhân thời cuộc và chứng nhân ngoại cảnh. Câu chuyện có thể kết luận bằng mô hình đạo lý của kẻ phản kháng, nhưng tác giả đã gạt bỏ quan điểm này và không nhận cứu rỗi bất cứ một ai. Tác phẩm họ Cao tự do, không quỵ lụy quyền lực mà cũng không phục tùng một thiện chí nào.

Vở kịch Đào Vong (chạy trốn) làm phật ý cả phong trào dân chủ lẫn kẻ cầm quyền. Cao Hành Kiện nhấn mạnh vào ảnh hưởng quan trọng của phong trào phản tự nhiên chủ nghĩa từ sân khấu phương tây đến kịch nghệ của ông. Ông trích dẫn Artaud, Brecht, Beckett và Kantor. Tuy nhiên, ông cũng đồng thời xem trọng việc khơi nguồn sân khấu dân gian. Trong khi sáng tác kịch nói bằng Trung ngữ, ông đã tiếp nối truyền thống lâu đời, sử dụng mặt nạ, kịch bóng, múa hát và nhạc trống. Ông quy nạp kỹ thuật di chuyển tự do trong không gian, thời gian sân khấu, bằng một điệu bộ, hay một từ ngữ, như trong tuồng cổ. Sự hoá thân phóng túng của mộng ảo và ngôn ngữ biểu tượng thô tháp của nó, đột nhập vào thế giới hình ảnh xác thực của con người hiện đại. Trong một số văn bản, dục tính tạo không khí căng thẳng cuồng nhiệt, trong khi vũ điệu làm biên đạo cho một số vở kịch khác. ở đó, ông là một trong những nhà văn nam hiếm hoi đặt chân lý người phụ nữ ngang tầm với nam giới.

Viện Hàn Lâm Thụy Điển - Ban thư ký thường trực

  • Đặng Tiến dịch từ bản tiếng Pháp
,
,