,
221
5083
Tác phẩm
tacpham
/vanhoa/tacpham/
888212
Istanbul - Ký ức về một thành phố (trích)
1
Article
443
Văn hoá
vanhoa
/vanhoa/
,

Istanbul - Ký ức về một thành phố (trích)

Cập nhật lúc 07:58, Thứ Năm, 18/01/2007 (GMT+7)
,

(VietNamNet) - Tại sao ta sinh ra ở chính cái xó này của thế giới, vào chính cái ngày này? Những gia đình nơi chúng ta chào đời, những đất nước và thành phố mà trò xổ số cuộc đời đã phân chúng ta vào - tất thảy đều chờ đợi tình yêu của chúng ta, và rốt cuộc chúng ta cũng thực sự yêu những gia đình, đất nước và thành phố đó tận đáy lòng mình; nhưng liệu có khi chúng ta xứng đáng được nhiều hơn thế chăng?

Istanbul - Ký ức về một thành phố

Chương một: Một Orhan khác 

*

*                      *

Hồi ký của Orhan Pamuk

Orhan Pamuk

Từ khi còn rất nhỏ, tôi đã hoài nghi liệu thế giới của tôi còn có nhiều cái khác mà tôi không thấy được hay chăng: ở đâu đó trên những đường phố Istanbul, trong một căn nhà giống như nhà của chúng tôi có một gã Orhan khác giống tôi đến nỗi người ta có thể ngỡ là anh em sinh đôi với tôi, thậm chí là bản đúp của tôi.

Tôi không nhớ được tôi đã lấy ý tưởng đó từ đâu ra hay nó đã đến với tôi bằng cách nào. Hẳn là ý đó đã nảy ra từ một mạng lưới những lời đồn, những hiểu lầm, những ảo tưởng và nỗi sợ. Nhưng qua một trong những ký ức sớm nhất của tôi cũng đã thấy rõ rằng ngay từ hồi đó tôi đã bắt đầu cảm thấy cái tôi khác đầy ma quái đó của mình.

Hồi tôi lên năm tuổi, bố mẹ cho tôi đến sống ở một căn nhà khác trong một khoảng thời gian ngắn. Sau một trong nhiều cuộc chia ly đầy sóng gió giữa hai người, cuối cùng bố mẹ tôi thu xếp gặp nhau ở Paris, còn hai anh em tôi vẫn ở lại Istanbul nhưng mỗi đứa một nơi.

Anh tôi ở cùng phần lớn gia đình với bà tôi tại Khu Pamuk ở Niflantaflý, còn tôi thì phải đến sống ở chỗ bà dì tôi ở Cihangir. Trên tường căn nhà này - nơi tôi được cưng như trứng mỏng – có treo bức ảnh một đứa trẻ nhỏ, và thỉnh thoảng dì hoặc dượng tôi lại chỉ đứa bé và vừa nói vừa cười: “Nhìn xem kìa! Cháu đấy!”

Cậu bé mắt nai hiền lành trong cái khung ảnh nhỏ màu trắng quả là hơi giống tôi thật, điều đó thì đúng. Thậm chí nó còn đội cái mũ mà thỉnh thoảng tôi cũng đội. Tôi biết mình không phải là thằng bé trong ảnh (một kiểu minh họa đầy chất sến về một “đứa nhỏ dễ thương” mà ai đó mang từ châu Âu về). Thế nhưng tôi vẫn không thôi tự hỏi: có phải đây là cậu Orhan vẫn sống trong căn nhà khác nọ hay không?

Dĩ nhiên, bây giờ tôi cũng đang sống trong một căn nhà khác. Dường như tôi đã chuyển đến đây trước khi có thể gặp người anh em sinh đôi của mình, nhưng bởi tôi chỉ muốn quay về căn nhà đích thực của mình nên chẳng hứng thú gì làm quen với anh ta. Cái trò vui nho nhỏ của dì dượng tôi bảo tôi chính là thằng nhỏ trong ảnh đã trở thành một lời chế nhạo không chủ ý, và mỗi lần như vậy tôi lại thấy tâm trí mình trở nên sáng rõ: những ý nghĩ về tôi và về đứa trẻ giống như tôi, hình ảnh tôi và bức ảnh mà tôi trông giống, căn nhà của tôi và căn nhà khác nọ, tất cả cùng trượt tới trượt lui trong một nỗi hỗn độn khiến tôi lại càng khao khát được về nhà hơn nữa, khao khát được về giữa vòng tay gia đình tôi.

Chẳng bao lâu ước mơ của tôi thành sự thực. Nhưng cái bóng ma gã Orhan khác trong căn nhà khác nọ ở đâu đó tại Istanbul chẳng bao giờ chịu rời tôi. Suốt cả thời thơ ấu của tôi cho tới tận tuổi trưởng thành, hắn ta luôn ám ảnh tư tưởng tôi. Vào những buổi chiều đông, đi ngang qua những con đường trong thành phố, tôi vẫn hay nhìn vào nhà những người khác thông qua làn ánh sáng màu cam nhợt nhạt của mái ấm gia đình và giấc mơ về những gia đình đầm ấm sống cuộc đời sung túc, bình an. Thế rồi tôi rùng mình khi nghĩ biết đâu gã Orhan khác kia đang sống ở một trong những căn nhà nọ.

Tôi càng lớn thì bóng ma càng trở thành một huyễn ảnh và huyễn ảnh trở thành một cơn ác mộng trở đi trở lại không dứt. Trong một số giấc mơ tôi chào đón tay Orhan này - luôn luôn ở trong căn nhà khác - bằng những tiếng thét kinh hãi; trong những giấc mơ khác thì hai chúng tôi nhìn chằm chằm vào mắt nhau trong im lặng tàn nhẫn kỳ quái. Sau đó, chập chờn hết tỉnh giấc rồi lại thiếp đi, tôi lại càng bấu víu dữ dội hơn vào cái gối của tôi, căn nhà tôi, con phố của tôi, nơi chốn của tôi trong thế giới.

Mỗi khi bất hạnh, tôi lại hình dung mình đi đến căn nhà khác nọ, cái cuộc đời khác nọ, nơi gã Orhan khác kia đang sống, và dẫu thế nào đi nữa tôi cũng nửa phần tự thuyết phục mình rằng tôi chính là y và thấy thích thú khi hình dung y hạnh phúc thế nào, thích thú đến nỗi trong một lúc tôi thấy chẳng cần phải đi tìm căn nhà khác nọ ở cái khu tưởng tượng khác nọ của thành phố nữa.

Đến đây ta đi đến cốt lõi vấn đề: tôi chưa bao giờ rời khỏi Istanbul, chưa bao giờ rời bỏ những căn nhà, những con phố, những khu dân cư quen thuộc của tuổi thơ tôi. Mặc dù tôi đã sống ở nhiều khu khác nhau lúc này hay lúc khác, nhưng suốt năm mươi năm nay tôi luôn thấy mình quay lại khu căn hộ nhà Pamuk nơi tôi đã chụp những bức ảnh đầu tiên, nơi mẹ tôi đã lần đầu tiên bế tôi trong tay để chỉ cho tôi nhìn thấy thế giới.

Tôi biết sự dằng dai không dứt này một phần bởi người bạn tưởng tượng của tôi, anh chàng Orhan khác nọ, và niềm khuây khỏa tôi có được nhờ mối dây gắn bó giữa chúng tôi. Nhưng chúng ta đang sống ở một thời mà đặc trưng là sự di cư hàng loạt và những người nhập cư đầy sáng tạo, nên đôi khi tôi thấy thật khó mà giải thích vì sao tôi cứ ở lại mãi không chỉ cùng một nơi mà còn trong cũng một tòa nhà. Giọng buồn rầu của mẹ tôi trở lại với tôi: “Tại sao con không đi ra ngoài một thời gian? Tại con không thử đổi khung cảnh, đi chu du đây đó…?”

Một góc Istanbul

Conrad, Nabokov, Naipaul là những nhà văn nổi tiếng bởi đã tìm được cách di cư giữa các ngôn ngữ, các nền văn hóa, các xứ sở, lục địa, thậm chí giữa các nền văn minh. Trí tưởng tượng của họ được nuôi dưỡng bằng sự lưu vong, một dưỡng chất không phải qua cội rễ mà qua tình trạng không cội rễ.

Tuy nhiên, trí tưởng tượng của tôi đòi hỏi tôi phải ở lại [lâu dài] trong cùng một thành phố, trên cùng một con phố, trong cùng một căn nhà, ngắm nhìn cùng một quang cảnh. Số phận của Istanbul là số phận của tôi. Tôi gắn bó với thành phố này bởi nó đã khiến tôi trở thành tôi như hiện tại.

Gustave Flaubert, khi đến thăm Istanbul 102 năm trước khi tôi ra đời, đã choáng trước sự đa dạng của đời sống trên những đường phố người đông kìn kịt của thành phố; ông tiên đoán trong một bức thư rằng trong vòng một thế kỷ nữa Istanbul sẽ là thủ đô của cả thế giới. Điều ngược lại đã thành sự thật: Sau khi Đế quốc Ottoman sụp đổ, thế giới hầu như đã quên bẵng rằng có Istanbul ở trên đời. Thành phố nơi tôi ra đời nghèo khó hơn, nhếch nhác hơn, biệt lập hơn so với bất cứ thời nào khác trong lịch sử hai ngàn năm trước.

Đối với tôi, Istanbul luôn luôn là một thành phố của những đổ nát và nỗi sầu ngày-tàn-đế-quốc. Suốt đời tôi chỉ hoặc đấu tranh với cái nỗi sầu này hoặc (như mọi người dân Istanbul) biến nó thành nỗi buồn của chính tôi.

Ít nhất là một lần trong đời, sự tự vấn dẫn ta đến chỗ xem xét lại hoàn cảnh ra đời của mình. Tại sao ta sinh ra ở chính cái xó này của thế giới, vào chính cái ngày này? Những gia đình nơi chúng ta chào đời, những đất nước và thành phố mà trò xổ số cuộc đời đã phân chúng ta vào - tất thảy đều chờ đợi tình yêu của chúng ta, và rốt cuộc chúng ta cũng thực sự yêu những gia đình, đất nước và thành phố đó tận đáy lòng mình; nhưng liệu có khi chúng ta xứng đáng được nhiều hơn thế chăng?

Đôi khi tôi tự nghĩ mình đã không may mắn đã sinh ra ở một thành phố già nua bần khổ vùi dưới tro tàn một đế quốc đã bại vong. Nhưng một tiếng nói bên trong tôi luôn khăng khăng nói rằng ấy quả thật là một hồng vận.

Nói về chuyện tài sản thì nhất định tôi có thể xem như mình gặp may bởi đã sinh ra trong một gia đình khá giả vào cái thời thành phố này đang lâm vào cực điểm thoái trào (mặc dù một số người ắt có thể cãi lại rằng không phải). Hầu hết là tôi không than phiền gì cả; tôi chấp nhận thành phố nơi mình sinh ra cũng như tôi chấp nhận thân thể mình (cho dù lẽ ra tôi rất muốn mình đẹp trai hơn và cao to hơn) cũng như giới tính của tôi (thậm chí dù tôi vẫn tự hỏi một cách ngây thơ rằng chẳng biết nếu mình sinh ra là đàn bà thì liệu có tốt hơn không). Đây là số phận của tôi, và tranh cãi về điều đó chẳng có ý nghĩa gì. Cuốn sách này là viết về số phận.

Tôi sinh vào nửa đêm ngày 7 tháng 6 năm 1952, trong một bệnh viện tư nhỏ ở Moda. Tôi nghe kể rằng đêm đó các hành lang bệnh viện rất yên bình, cả thế giới cũng yên bình. Ngoài chuyện núi lửa Strambolini bất thần phụt lửa và tro trước đó hai hôm thì dường như chẳng có bao nhiêu chuyện xảy ra trên hành tinh của chúng ta. Báo chí rặt những tin vặt vãnh: dăm bài báo về các đội quân Thổ Nhĩ Kỳ đánh nhau ở Triều Tiên; vài ba tin đồn về việc người Mỹ ngày càng e sợ Bắc Triều Tiên có lẽ đang chuẩn bị dùng vũ khí sinh học.

Mấy tiếng đồng hồ trước khi tôi chào đời, mẹ tôi đã háo hức theo dõi một chuyện ở địa phương: Hai hôm trước, những người trông nhà và các cư dân “anh dũng” ở Trung tâm sinh viên Konya đã thấy một người đàn ông đeo một cái mặt nạ kinh khiếp đang cố vào một căn nhà ở Langa qua cửa sổ buồng tắm; họ đuổi theo hắn qua các phố đến một mảnh sân chứa gỗ, ở đó, sau khi nguyền rủa cảnh sát, kẻ tội phạm dạn dày tự sát; một người bán đồ khô nhận diện tử thi là một tay anh chị mà mới năm ngoái đã mang súng xộc vào cướp cửa hàng anh ta ngay giữa ban ngày ban mặt.

Khi đọc đến đoạn cuối tấn bi kịch này, mẹ tôi chỉ có một mình ở trong phòng, nhiều năm về sau mẹ kể cho tôi với một tình cảm lẫn lộn giữa hối tiếc và bực mình như vậy. Sau khi đưa mẹ tôi đến bệnh viện, cha tôi trở nên bồn chồn lo lắng, và khi cơn đau đẻ của mẹ tôi không tiến triển thì ông ra ngoài gặp bạn bè. Người duy nhất có mặt bên bà trong phòng sinh là dì tôi, bà đã cố trèo qua tường bao quanh vườn bệnh viện giữa đêm khuya. Khi mẹ tôi lần đầu tiên để mắt đến tôi, bà nhận thấy tôi gầy hơn và mỏng manh hơn anh trai tôi.

Tôi thấy cần phải nói thêm như vậy hoặc ấy là tôi nghe nói vậy. Trong tiếng Thổ Nhĩ Kỳ có một thì động từ đặc biệt cho phép chúng tôi phân biệt những gì nghe [người khác] nói với những gì ta thấy bằng chính mắt mình; khi nào muốn nói về những giấc mơ, chuyện cổ tích, hay những sự kiện trong quá cứ mà bản thân mình không thể chứng kiến thì chúng tôi dùng thì này. Đó là một cách hữu ích để phân biệt khi chúng ta “nhớ lại” những trải nghiệm đầu tiên trong đời, những chiếc nôi, xe đưa nôi, những bước chập chững đầu đời của chúng ta, tất thảy đều do cha mẹ chúng ta kể lại, những câu chuyện mà chúng ta lắng nghe háo hức y như nghe câu chuyện tuyệt vời của một người nào khác.

Đó là một cảm xúc cũng ngọt ngào như thể nhìn thấy chính mình trong giấc mơ, nhưng chúng tôi phải trả cho điều đó một cái giá đắt. Một khi đã khắc sâu vào tâm trí chúng ta, lời người khác thuật lại về những gì chúng ta đã làm rốt cuộc sẽ hóa ra quan trọng hơn những gì bản thân ta nhớ được. Và cũng như ta biết được về cuộc đời mình từ những người khác, chúng ta cũng để cho người khác nhào nặn sự hiểu biết của chúng ta về thành phố nơi ta sống.

Đôi lúc, những khi tôi coi như của mình những câu chuyện nghe [người khác] kể về thành phố của tôi và bản thân tôi, tôi những muốn nói: “Trước kia đã có lúc mình hay vẽ. Mình nghe nói mình sinh ở Istanbul, và mình hiểu rằng hồi nhỏ mình khá là tọc mạch.

Thế rồi, năm hai mươi hai tuổi, hình như mình bắt đầu viết tiểu thuyết mà chẳng biết vì sao.” Tôi đã muốn viết toàn bộ câu chuyện của mình theo cách đó - như thể cuộc đời tôi là cái gì đó đã xảy ra với một người nào khác, như thể đó là một giấc mơ mà trong đó tôi cảm thấy giọng mình cứ nhỏ dần và ý chí tôi không cưỡng nổi sự cám dỗ.

Dẫu ngôn ngữ anh hùng ca có đẹp đi chăng nữa, tôi vẫn thấy nó không thuyết phục, bởi tôi không thể chấp nhận rằng những huyền thoại chúng ta kể về những cuộc đời đầu tiên của mình lại có thể giúp ta sẵn sàng cho những cuộc đời thứ hai sáng láng hơn, đích thực hơn, những cuộc đời sẽ khởi đầu khi chúng ta thức dậy. Bởi vì - ít nhất với những người như tôi - cuộc đời thứ hai này chẳng gì khác hơn là cuốn sách trong tay bạn. Thế nên hãy chú ý cho kỹ, thưa bạn đọc thân mến. Hãy để tôi được thẳng thắn với bạn, và đổi lại hãy cho tôi mong đợi lòng cảm thông của bạn.

  • Thụ Nhân dịch từ tiếng Anh
,
,