221
5081
Tin tức
tintuc
/vanhoa/tintuc/
848634
Giải Nobel văn chương: bao giờ minh bạch, công khai?
1
Article
443
Văn hoá
vanhoa
/vanhoa/
Giải Nobel văn chương: bao giờ minh bạch, công khai?
,

(VietNamNet) - Liệu đến một lúc nào đó Ủy ban Nobel có sẽ hiểu ra rằng họ cần phải tự đổi mới mình theo hướng cởi mở, công khai, minh bạch?

Soạn: HA 915431 gửi đến 996 để nhận ảnh này
J.L.Borges (1899-1996), một trong những "người khổng lồ" trên văn đàn thế giới mà Uỷ ban Nobel đã luôn luôn "nhất quán" bỏ qua

Khoảng đầu tháng 10 hàng năm, “đến hẹn lại lên”, giới văn chương và báo chí trên toàn thế giới lại đoán già đoán non xem ai sẽ lọt vào “mắt xanh” Viện hàn lâm Thụy Điển đặng có cơ hội cầm trên tay giải thưởng Nobel văn chương lắm tiếng tăm.

Một trong những lý do khiến giải thưởng Nobel lâu nay thu hút được nhiều quan tâm như vậy có lẽ chính là sự “bí mật” của nó. Người ta không bao giờ có thể biết chính xác danh sách ứng viên Nobel văn chương gồm những ai mà chỉ có thể phỏng đoán - và đánh cược. Trên website của giải thưởng Nobel ghi rõ: “danh sách ứng viên chỉ được phép tiết lộ sau 50 năm”.

Sự “bí mật”, “kín cổng cao tường” đó khiến cho quá trình xét giải của Uỷ ban Nobel có cái gì đó tựa như công việc của một hội kín mang tính chất “cả thiêng” và “bí hiểm”, kiểu như các thầy tư tế cung đình hay các nhà giả kim thuật ngày xưa.

Mặt khác, như J. Coetzee, giải Nobel 2003 từng nhận xét, uy tín của giải Nobel văn chương nói riêng và giải Nobel nói chung sở dĩ lớn được như vậy phần lớn là nhờ sự có mặt đầy “hoành tráng” và “uy nghiêm” của nhà vua và hoàng gia Thụy Điển.

Nói cách khác, nhân tố quan trọng làm nên uy tín của giải Nobel không hẳn là năng lực thẩm định và sự công tâm của ban giám khảo, mà là uy tín của hoàng gia Thụy Điển, một tàn dư rớt lại từ thời đại hoàng kim của các triều đình phong kiến châu Âu thời xưa.

Trên thực tế, cái vẻ ngoài “cả thiêng”, “bí hiểm” cộng với sự hoành tráng và uy nghiêm đó không đủ để bảo chứng cho giá trị đích thực của giải Nobel văn chương.

Nhiều người vẫn chưa quên trường hợp năm 1974, khi danh sách những người được xét trao giải bao gồm những nhân vật kiệt xuất như Graham Greene, Vladimir Nabokov và Saul Bellow, thế nhưng rốt cuộc giải thưởng lại về tay hai tác giả người Thụy Điển Eyvind Johnson và Harry Martinson, trong khi cả hai ông này đều là thành viên ban giám khảo Nobel!

Vụ “xì căng đan” này gây nhiều tranh cãi đến mức bốn năm sau, vào năm 1978, một trong hai ông nói trên là Martinson, vì không chịu nổi búa rìu dư luận, đã tự sát bằng một cái kéo. 

Việc người đoạt giải năm 2004 là Elfriede Jelinek cũng bị phê phán ngay trong nội bộ Viện hàn lâm Thụy Điển. Knut Ahnlund (vốn thật ra đã không đóng vai trò gì tích cực trong Viện kể từ năm 1996) đã rút khỏi Viện Hàn lâm và tuyên bố, việc chọn Jelinek đã gây ra một “tổn thất không sao cứu vãn được” đối với uy tín của giải đồng thời buộc tội Horace Engdahl, thư ký thường trực của Ủy ban Nobel từ năm 1999, là đang "huỷ hoại dây thần kinh đạo đức của đất nước (Thụy Điển)".

Người ta lại cũng thường nhắc đến những trường hợp giải Nobel bị chính trị hóa, cụ thể là được trao cho ai đó vì động cơ chính trị nhiều hơn là văn chương. Cụ thể đó là trường hợp giải trao cho C.Milosz người Ba Lan vào năm 1980, đúng vào năm Công đoàn Đoàn kết ở Ba Lan được hình thành, hoặc W.B.Yeats người Ailen đoạt giải vào năm 1923, chỉ một năm sau khi Ailen giành được độc lập. H. Pinter, Nobel Văn chương 2005, tin rằng ông được giải là nhờ các hoạt động chính trị của ông hơn là nhờ 29 vở kịch của ông, và đã không ngần ngại biến bài Diễn từ Nobel của mình thành một bản cáo trạng kịch liệt lên án cuộc chiến tranh chống Iraq của Mỹ.

Giải Nobel, mặc dù đã nhiều lần được trao cho những người mà dư luận chung nhất trí là xứng đáng, hiển nhiên không phải là thước đo duy nhất về phẩm chất ưu việt và giá trị trường tồn của văn chương. Trên thế giới còn có những giải thưởng khác hiện diện như một thứ bổ khuyết và đối trọng cần thiết cho nó.

Chẳng hạn, giải thưởng Neustadt của Mỹ, được tài trợ bởi Đại học Oklahoma, là một giải thưởng văn chương đang ngày càng có uy tín trên văn đàn thế giới. Nhiều nhà văn, nhà thơ lớn đã đoạt giải thưởng này trước khi được trao giải Nobel văn chương, như G.G. Marquez (giải Neustadt 1972, giải Nobel 1982), C. Milosz (giải Neustadt 1978, giải Nobel 1980), O. Paz (giải Neustadt 1982, giải Nobel 1990).

Một trong những khác biệt nổi bật giữa các giải thưởng như giải Neustadt với giải Nobel là sự minh bạch, công khai của nó. Danh sách ban giám khảo và danh sách ứng viên trong mỗi lần trao giải (2 năm một lần) đều được công bố trên website chính thức của ban tổ chức giải thưởng.

Một điều đáng lưu ý khác là, ban giám khảo giải Neustadt thường bao gồm các nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình có tên tuổi từ nhiều nước trên thế giới. Chẳng hạn, ban giám khảo Neustadt năm 2004 bao gồm Esther Allen (Mỹ), Kristjana Gunnars (Iceland), Abdulrazak Gurnah (Tanzania), Gabriel Okara (Nigeria), Edmundo Paz-Soldán (Bolivia), Bắc Đảo (Trung Quốc), Bapsi Sidhwa (Pakistan), v.v.

Dĩ nhiên, tự thân tính đa chủng tộc, đa văn hóa của ban giám khảo không phải là cái có thể bảo chứng cho giá trị của giải thưởng. Tuy nhiên, tính đa chủng tộc, đa văn hóa đó chắc chắn phản ánh xu hướng chung của thế giới ngày nay là toàn cầu hóa đồng thời phi tâm hóa, nghĩa là giải trừ định kiến xưa nay vốn chỉ coi trọng một số trung tâm tri thức và văn hóa “lớn” (cái gọi là dĩ Âu vi trung), và thừa nhận vị trí đồng đẳng của các nền văn hóa từng bị coi là “ngoại biên”.

Sự dung hợp những thành tố khác biệt đó hiển nhiên là một nhân tố làm những giải thưởng Neustadt theo nghĩa nào đó là lành mạnh hơn so với giải Nobel của Viện hàn lâm Thụy Điển.

Từ xưa đến nay, ban giám khảo giải Nobel Văn chương vẫn là một cơ cấu bất di bất dịch bao gồm một số viện sĩ Viện Hàn lâm Thụy Điển, những người mà nền tảng văn hóa chắc hẳn là rất đáng nể, thế nhưng, hệ nguyên lý thẩm mỹ và bản thân sự khép kín của họ vị tất đã khiến họ đủ cởi mở để tiếp nhận những phát triển mạnh mẽ, phong phú và không ngừng tươi mới của văn chương thế giới.

Sự tồn tại dai dẳng của một trung tâm - mà thực chất là một dúm người trước sau không thay đổi - tự cho mình có đủ thẩm quyền định đoạt các giá trị văn chương của toàn thế giới, phải chăng là đặc trưng của một não trạng cũ kỹ mà thực tiễn văn chương cũng như nền phát triển chung của nhiều khu vực khác nhau trên thế giới đã và đang mạnh mẽ vượt qua?

Liệu đến một lúc nào đó Ủy ban Nobel có sẽ hiểu ra rằng họ cần phải tự đổi mới mình theo hướng cởi mở, công khai, chấp nhận những sự khác biệt?

  • Thụ Nhân
,
Ý kiến của bạn
Ý kiến bạn đọc
,
,
,
,