221
452
Chính trị
chinhtri
/chinhtri/
877302
Muốn hoà hiếu phải có thực lực
1
Article
null
Kỷ niệm 60 năm Toàn quốc kháng chiến 19/12/2006:
Muốn hoà hiếu phải có thực lực
,

(VietNamNet)- Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, chỉ giữ được hòa hiếu khi chúng ta có đủ thực lực. Không ai cho không chúng ta sự hòa hiếu. Bài viết của nhà nghiên cứu Tương Lai.

Bài học lịch sử

Soạn: HA 986939 gửi đến 996 để nhận ảnh này
.

“Chúng ta muốn hòa bình. Chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới… Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Sáu mươi năm ôn lại bài học lịch sử để càng thấu tỏ hơn nguồn cơn những bước thăng trầm của lịch sử. 

Trong thư gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh 20 năm sau ngày toàn quốc kháng chiến 19/12/1946, tức là 12 năm sau khi cuộc kháng chiến ấy giành thắng lợi, Tổng thống Pháp De Gaulle viết “Giá như có một sự hiểu biết nhau tốt hơn giữa người Việt Nam và người Pháp ngay sau đại chiến thế giới thì đã có thể tránh được những sự biến tai ác đang giằng xé đất nước Ngài hôm nay”. Vào đầu tháng 12 vừa rồi tại Hà Nội, cựu Tổng thống Mỹ Bill Clinton nhắc lại chuyện: “Sáu mươi năm trước, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng thống Roosevelt đã muốn hai nước Việt - Mỹ thật sự là bạn. Quá trình này đã có những bước gập ghềnh”. 

Một người Mỹ khác, thiếu tá Archimede Patti, người có mặt tại Hà Nội để kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1990 cho biết, khi chia tay với ông vào ngày 30/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã yêu cầu ông ta trở lại vì “bạn bao giờ cũng được hoan nghênh”. Thế nhưng có “những bước gập ghềnh” đã khiến cả hai dân tộc phải trả giá đắt. “Gập ghềnh” là vì cái logic nghiệt ngã trong quy luật muôn đời của kẻ mạnh muốn áp đặt ý chí của mình lên số phận của những dân tộc yếu thế hơn.

Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, chỉ giữ được hòa hiếu khi chúng ta có đủ thực lực. Không ai cho không chúng ta sự hòa hiếu. Xưa kia, khi Nguyễn Trãi vì muốn “sửa hòa hiếu cho hai nước, tắt muôn đời chiến tranh” nên đã “nghĩ kế lâu dài đất nước, tha kẻ hàng mười vạn sĩ binh”. Muốn và làm được, vì thực lực của cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nhà Minh thế kỷ XV lúc ấy “Gươm mài đá, đá núi cũng mòn; voi uống nước, nước sông phải cạn, Đánh một trận sạch không kình ngạc, đánh hai trận tan tác chim muông”. Từ bài học lịch sử, chúng ta hiểu sâu hơn về ngày hôm nay. Hòa hiếu và hội nhập để phát triển phải được xây đắp trên cái nền vững chắc của ý chí quật cường và sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc. Đó là điểm tựa “bất biến” để mà “ứng vạn biến”. 

Bài học về thế và lực, bài học của ý chí quật cường và bản lĩnh dám chủ động tiến công và biết cách giành thắng lợi sáu mươi năm trước đây vẫn còn nóng hổi. Việt Nam luôn muốn được là bạn của thế giới. Nhưng để thực hiện điều đó lại không tùy thuộc vào mong muốn và thiện chí của ta.

Trước ngày toàn quốc kháng chiến một năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định Việt Nam muốn “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”, “thái độ nước Việt Nam đối với những nước Á châu là một thái độ anh em, đối với ngũ cường là một thái độ bạn bè”. Nhưng rồi cái giá phải trả để được sống hòa hiếu, để được là bạn của mọi quốc gia trên thế giới là cuộc chiến đấu gian khổ và hy sinh của nhiều thế hệ Việt Nam suốt ba mươi năm.

Cũng đúng vào thời điểm ấy, Người khẳng định: “Phải trông ở thực lực. Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to thì tiếng mới lớn”.* Ngẫm lại thời cuộc của cái năm sau Cách mạng Tháng Tám 19/8/1945 và trước ngày 19/12/1946, càng thấy bản lĩnh chính trị của Hồ Chí Minh và Đảng của Người lèo lái con thuyền đất nước qua bao phong ba bão táp là kỳ diệu đến thế.

Sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc

Soạn: HA 986941 gửi đến 996 để nhận ảnh này
.

Để có đủ thời gian gây dựng thực lực, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khôn khéo khai thác và tận dụng bất cứ khả năng nào ở trong nước và quốc tế, cho dù là nhỏ nhất, để kéo dài giai đoạn hoà bình mong manh. Khi mong manh ấy cũng không còn, thì biết chủ động tấn công để giành lấy thế bất ngờ, đó chính là bản lĩnh Hồ Chí Minh.

Có được bản lĩnh để ra quyết sách cực kỳ sáng suốt ấy vì Hồ Chí Minh tin chắc vào sức mạnh của dân tộc mình, biết cách khởi động và đẩy tới đỉnh cao sức mạnh đó bằng đường lối đại đoàn kết dân tộc. “Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên”. Hai tiếng “đồng bào” của Hồ Chí Minh trùm khắp cả nước, không thiếu một ai: “Bất kỳ đàn ông đàn bà, không chia tôn giáo đảng phái, dân tộc, bất kỳ người già, người trẻ. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc”. Vũ khí vạn năng của “người Việt Nam” là lòng yêu nước và ý chí quật cường.

Sức sống mãnh liệt của dân tộc trỗi dậy với lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, viết nên thiên anh hùng ca của thời đại về một dân tộc đất không rộng, người không đông, song đã dám chiến đấu và biết chiến thắng những thế lực xâm lược vốn chưa nếm mùi thất bại.

Đó là bài học lớn của ngày 19/12/1946. Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc xuyên suốt trong chủ trương đường lối, tình cảm, tư tưởng cũng như toàn bộ cuộc đời hoạt động và sự nghiệp của Hồ Chí Minh. Có thể nói đó là điểm son chói lọi và là cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh. Là cái “bất biến”, phải tựa vững vào đó mà “ứng vạn biến” ở mọi tình huống, trong mọi ứng xử. 

Lúc nào chủ trương, đường lối của Đảng thể hiện nhất quán tư tưởng đó, lúc ấy cách mạng thắng lợi. Lúc nào đi chệch khỏi tư tưởng đó, nâng quan điểm đấu tranh giai cấp lên để lấy làm điểm tựa “bất biến” trong ứng xử với các tầng lớp nhân dân, với “đồng bào” của mình, lúc ấy cách mạng gặp khó khăn vì khối đại đoàn kết dân tộc bị sứt mẻ, bị phân ly, bị giảm sút. 
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, dân tộc không chỉ là địa bàn ứng dụng của lý tưởng cách mạng mà là điểm xuất phát, mảnh đất màu mỡ và cội nguồn sáng tạo của lý tưởng cách mạng của Người.

Khối đại đoàn kết dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh rất rộng lớn, vững chắc và không hề thay đổi trong quá trình cách mạng, mà chỉ tăng lên về chất lượng để thành một tập hợp mới mạnh mẽ hơn, bền chắc hơn. Trong đó, có thể rơi rớt một cá nhân này hay một cá nhân khác chứ không hề có chuyện loại bỏ tầng lớp này hay tầng lớp khác theo kiểu sử dụng “bạn đường” có thời hạn để khi cần thì vứt bỏ. 

Trong hành động và cách ứng xử của Hồ Chí Minh với con người, với “đồng bào” của mình là thuỷ chung như nhất. Thậm chí có người tự rời bỏ dân tộc, mắc vào cạm bẫy của kẻ thù như cố vấn Vĩnh Thuỵ, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn biểu tỏ thái độ khoan dung: “Cố vấn đi lâu ngày, chúng tôi rất nhớ. Đồng thời cũng mong Cố vấn về để cùng nhau bàn việc nước. Nhưng đường xa mà lòng gần”*.

Kinh nghiệm xây khối đại đoàn kết cho ngày nay

Để xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, Hồ Chí Minh không bỏ sót bất cứ người Việt Nam nào. Với những người cơ cực nhất thì: “Lúc ta nâng bát cơm mà ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng” (6). Hoặc với “Các chị em cô đầu… khi bộ đội lo đánh giặc thì chị em người lo nấu cơm nấu nước, người giúp chuyên chở đạn dược, người thì băng bó, săn sóc thương binh. Thế là chị em cũng cùng tham gia kháng chiến, cũng làm tròn nghĩa vụ quốc dân”*.

Với giới công thương thì “việc nước việc nhà bao giờ cũng đi đôi với nhau. Nền kinh tế quốc dân thịnh vượng nghĩa là các sự kinh doanh của các nhà công nghiệp, thương nghiệp thịnh vượng”*. Đối với giới trí thức trong và ngoài nước thì Người đòi hỏi họ “biết xử sự như người con của một dân tộc đã có một nền văn hoá lâu đời, nhưng lại có đủ khả năng để trẻ lại”*. 

Có lẽ uy tín và bản lĩnh Hồ Chí Minh đã là sức nam châm thu hút trái tim và khối óc của người trí thức, khiến họ “có đủ khả năng để trẻ lại” cùng với cách mạng và đóng góp xứng đáng. Không những thế, nhìn ở một góc cạnh nào đó, nếu biết phân tích nghiêm túc và mạnh dạn, đóng góp của những người trí thức chân chính đứng trong đội ngũ của cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh là có ý nghĩa hết sức lớn lao mà có lúc chưa được ghi nhận một cách khách quan và trung thực. 

Nêu lên điều này chính là vì hơn lúc nào hết, đây là thời điểm mà vai trò của trí thức chân chính cần được khẳng định và phát huy trong hội nhập và phát triển. Tấm gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng và trọng dụng trí thức có ý nghĩa lớn lao và bức xúc khi mà“sớm đưa đầt nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển là mục tiêu trực tiếp của Đại hội X”, cụ thể là phải “tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta về cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”.

Không có một đội ngũ hùng hậu những trí thức tài giỏi và có bản lĩnh làm nòng cốt trong việc vận dụng những thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất và kinh doanh, thì làm sao làm cho nền kinh tế phát triển theo chiều sâu, nâng cao hàm lượng chất xám và giá trị gia tăng để đuổi kịp với khu vực và thế giới?

Từ sự chân thành và nhất quán, thuỷ chung như nhất trong tư tưởng và hành động, trong mọi ứng xử được dẫn dắt bởi tư tưởng Hồ Chí Minh mà khối đại đoàn kết dân tộc được củng cố và nâng cao. Đó là cội nguồn mọi thắng lợi. Đấy chính là bài học lớn còn nguyên vẹn ý nghĩa thời sự về kỷ niệm 60 năm ngày toàn quốc kháng chiến 19 tháng 12. Sáu mươi năm sau ngày Hà Nội nổ súng, chính thức khởi động cuộc kháng chiến toàn quốc, Hà Nội với APEC 2006 vừa rồi đã ghi nhận một cột mốc mới của Hội nhập và Phát triển.

Đất nước đang đứng trước vận hội mới. Lịch sử đã sang trang. Nhưng bài học của lịch sử thì vẫn nguyên vẹn: nhân dân là tác giả của mọi chiến công khi có những người hội đủ khí phách và trí tuệ của dân tộc đảm đương sứ mệnh dẫn đường. Chính vì thế, người lãnh đạo phải tự nâng mình lên tầm trí tuệ của dân tộc và khát vọng của nhân dân.
_____________________
* Hồ Chí Minh toàn tập. Tập 4 NXBCTQG Hà Nội 1995 tr. 126, tr.31, tr.486, tr.49,tr.486

  • Tương Lai
,
Ý kiến của bạn
Ý kiến bạn đọc
,
,
,
,