221
452
Chính trị
chinhtri
/chinhtri/
928556
Chủ thuyết để VN phát triển đột phá trong thế kỷ XXI
1
Article
null
Chủ thuyết để VN phát triển đột phá trong thế kỷ XXI
,

(VietNamNet) - Với dẫn đề: "Chủ thuyết phát triển trong thế kỷ 21", bàn tròn trực tuyến chiều 3/5 đã làm ấm lòng nhiều người bởi nhiệt huyết của những người tham gia.

Và hầu như mọi câu trả lời của khách mời đều dẫn chúng ta đến một lời kết: Tìm hiểu kỹ về di sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh để thấu hiểu hơn những điều Người đã nói, những việc Người đã làm và những trăn trở của Người dành cho dân tộc, sẽ giúp chúng ta những bài học soi rọi cho con đường phát triển trong thời đại mới...

Xin giới thiệu với bạn đọc toàn bộ nội dung bàn tròn

1
 

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Thưa các bạn, đất nước ta vừa kỷ niệm ngày hòa bình, thống nhất 30/4, 19/5 tới đây sẽ là 117 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Đây là thời điểm mỗi người Việt Nam đều nghĩ về đất nước, về dân tộc, về Bác Hồ. VietNamNet muốn cùng độc giả và ba vị khách mời - TS Vũ Minh Khương, TS Trần Đình Thiên và ông Nguyễn Huy Hoan - nhìn lại con đường, tư tưởng của Bác đã dẫn dắt dân tộc VN trong thế kỷ 20 cũng như tìm ra cách vận dụng tư tưởng ấy trong thế kỷ 21 để đưa đất nước tiến lên hùng cường đúng như mong muốn của Bác.

Là người nghiên cứu và hiểu sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh, xin mời ông Nguyễn Huy Hoan chia sẻ đôi điều về con đường, về tư tưởng của Bác đối với dân tộc trong thế kỷ 20?

Độc lập và sáng tạo...

1

Ông Nguyễn Huy Hoan

Ông Nguyễn Huy Hoan: Theo tôi, công lao đầu tiên của Bác đối với dân tộc chính là tìm ra được con đường cứu nước đúng đắn. Đó không chỉ là con đường giải phóng dân tộc đơn giản, chung chung tìm thấy từ chủ nghĩa Mác, mà chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những luận điểm hết sức sáng tạo.

Ví dụ như quan điểm về việc giải phóng dân tộc. Thời điểm ấy, quốc tế cộng sản cho rằng, chỉ có thể giải phóng thuộc địa đồng thời với giải phóng giai cấp vô sản ở chính quốc. Công nhân, nông dân ở Việt Nam, Algieria... không thể có độc lập, chưa thể được giải phóng khi công nhân ở Anh, Pháp còn chưa giành được chính quyền. Trong khi đó, Bác Hồ xác định con đường mới cho đất nước là không thể chờ cách mạng chính quốc thành công. Bác đã nói rất rõ: "Hỡi những người nô lệ thuộc địa! Làm thế nào để giải phóng chúng ta? Vận dụng chủ nghĩa Mác, chúng tôi xin nói với anh em rằng công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể dựa vào sự nỗ lực của chính anh em".

Chúng ta đã làm nên cuộc Cách mạng tháng tám năm 1945 thành công hoàn toàn tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình, nhờ nắm được thời cơ (lúc đó chưa  có sự giúp đỡ cụ thể về vật chất của bên ngoài). Đó là quan  điểm hết sức mới mẻ của Bác.

Thứ hai là, vào thời điểm bấy giờ, ở nhiều nước cũng như ở quốc tế cộng sản, người ta cũng tranh luận nhiều về thời cơ giải phóng các dân tộc thuộc địa. Họ cho rằng cách mạng thuộc địa không thể thành công trước cách mạng chính quốc. Thậm chí có người lãnh đạo Đảng Cộng sản Pháp nói với đại diện Đảng Cộng sản VN rằng chúng ta không thể thành công khi họ chưa nắm chính quyền. Nhưng Bác Hồ cho rằng cách mạng thuộc địa "có thể" thành công trước chính quốc (năm 1922). Đến năm 1924, khi phát biểu tại ĐH 5 Quốc tế Cộng sản, Bác đã nâng lên thành một quan điểm mới - không phải "có thể" mà khẳng định -: "Tôi sẽ lợi dụng mọi cơ hội, nếu cần tôi sẽ thúc đẩy mọi cơ hội để... phải tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc trước cách mạng ở chính quốc, không chờ cách mạng chính quốc thắng lợi mà phải làm trước, trước hết phải tước hết thuộc địa của chính quốc".

Bác cũng khẳng định bên cạnh chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn.

Không chỉ sáng tạo trong tư tưởng, lý luận mà trong công việc thực tiễn, Bác Hồ cũng rất sáng tạo. Ở nhiều nước, sự ra đời của Đảng Cộng sản dựa vào chủ nghĩa Mác và phong trào công nhân. Nhưng Bác gieo hạt mầm chủ nghĩa Mác vào phong trào yêu nước của các tầng lớp nhân dân trước rồi mới gieo hạt mầm ấy vào phong trào công nhân. Bởi Bác nhìn thấy sức mạnh của một dân tộc yêu nước, bất khuất như VN. Nếu không có quan điểm sáng tạo đó, có lẽ Đảng ta chưa thể ra đời được vào những năm 1930 bởi thời điểm ấy, giai cấp công nhân VN chưa thật lớn mạnh, đúng nghĩa như Các Mác đã nói.

 Đây là điểm vô cùng sáng tạo của Bác.

Về sau này, trong lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân, Bác cũng có những quan điểm hết sức sáng tạo. Đó là quan điểm tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính. Những năm kháng chiến chống Pháp, chúng ta chưa nhận được sự hỗ trợ của các nước nhưng cách mạng ngày một thắng lợi.

Bác là người chủ trương thực hiện đại đoàn kết các dân tộc, các tôn giáo, đoàn kết tất cả những người yêu nước. Đó là đại đoàn kết thực sự, vì mục tiêu chung, lý tưởng chung. Gặp các tầng lớp nhân dân, Bác thường nói, mỗi người, mỗi đoàn thể có tính cách riêng nhưng vì sự nghiệp lớn, vì đại nghĩa của đất nước, chúng ta có thể đoàn kết nhau lại, mưu lợi ích cho dân tộc, cho các tầng lớp nhân dân, để nhân dân được hưởng độc lập, hạnh phúc.

Đến thời kỳ xây dựng CNXH, Bác đã có những định nghĩa cụ thể, dễ hiểu rằng "CNXH chính là làm cho mọi người sung sướng"; trong di chúc, Bác viết: "Mong muốn nhân dân đoàn kết để "xây dựng nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh".

Đó chính là những quan điểm độc lập của Bác.

"Những quan điểm của Hồ Chí Minh vào thời điểm đó hết sức mới mẻ, ít người thừa nhận nhưng Hồ Chí Minh đã kiên trì và thành công với quan điểm đó", đối chiếu với quan điểm của các nhà tư tưởng cùng thời, nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài đánh giá như thế về Bác.

1

TS Vũ Minh Khương

TS Vũ Minh Khương: Tôi muốn chia sẻ hai suy nghĩ. Một là, Bác Hồ với việc lãnh đạo sự nghiệp cách mạng thành công chứng tỏ dân tộc VN có thể thực hiện được khát vọng lúc đó là độc lập tự do. Hai là, vào năm 2045 tới đây, khi kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam mới, nếu dân tộc có thể làm được điều gì phi thường để xây dựng VN hùng cường, chúng ta có thể cùng tự hào ôn lại kỷ niệm về cách mạng tháng Tám, về thắng lợi trong quá khứ... Nếu không làm được, vị thế dân tộc ở vị trí thấp kém so với thế giới thì sẽ là điều đáng buồn cho chúng ta hôm nay và các thế hệ tương lai.

Đến thời kỳ xây dựng CNXH, Bác đã có những định nghĩa cụ thể, dễ hiểu rằng "CNXH chính là làm cho mọi người sung sướng"; trong di chúc, Bác viết: "Mong muốn nhân dân đoàn kết để "xây dựng nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh". Đó chính là những quan điểm độc lập của Bác.

... Bác đã gắn  kết  người Việt với nhau và kết nối Việt Nam với thế giới!

TS Trần Đình Thiên: Về Chủ tịch Hồ Chí Minh - một người yêu nước, một nhân cách lớn, trí tuệ lớn, tôi muốn nhấn mạnh hai điểm: đó là sự kết nối của chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa quốc tế của Bác và việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa dân tộc với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Tôi nhớ câu nói của một lãnh đạo Việt Nam hiện nay, rằng Bác Hồ là người yêu nước hơn tất cả chúng ta nên có thể tập hợp tất cả chúng ta lại để cùng cống hiến cho đất nước này. Bác không chỉ làm cho người VN kết nối được với nhau mà còn làm cho thế giới quan tâm hơn đến VN, yêu VN.

Thứ hai, Bác Hồ đã ra nước ngoài, đưa VN ra nước ngoài, cùng thế giới học thế giới để giải quyết vấn đề độc lập dân tộc và phát triển của VN. Từ thời đó, Bác đã kéo được trí tuệ VN ở nước ngoài về đóng góp cho Tổ quốc. Đó cũng là biểu hiện cụ thể của sự kết nối với thế giới, là vấn đề quan trọng cần được đặt ra một cách quyết liệt trong thời kỳ phát triển trong hội nhập, bởi để VN hội nhập nhanh với thế giới thì rất cần phải nối được, phải kéo được những người Việt Nam ở khắp thế giới về.

 "Nói đi đôi với  làm - Bác đã cảm hoá được nhân dân và bè bạn quốc tế!"

1

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Ngoài là nhà tư tưởng lớn, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là một nhân cách lớn. Xin mời ông Nguyễn Huy Hoan chia sẻ về điều này.

Ông Nguyễn Huy Hoan: Tôi cho rằng, Bác Hồ thành công ở chỗ tập hợp được rất nhiều nhân tài, dù người đó là tầng lớp nào, tôn giáo nào, sinh sống ở đâu. Có hai nhân tố thuộc về nhân cách con người Bác để thu hút nhiều tầng lớp trí thức, đó là trí tuệ và đạo đức. Tôi rất tán thành quan điểm của anh Thiên về lòng yêu nước của Bác, lòng yêu nước thể hiện bằng hành động suốt cuộc đời. Ra đi vất vả như thế và Bác đã vượt qua hết, phải làm bồi tàu, quét tuyết... nhưng vẫn quyết chí làm thế nào để mang độc lập tự do cho đất nước. Trong thời gian ở nước ngoài, Bác đã hai lần bị tù đày, bao nhiêu lần ốm đau.. nhưng lòng yêu nước vẫn là ngọn lửa bùng cháy để Bác không rời bỏ lý tưởng của mình.

Lý tưởng này đã được Bác nói rõ, thống nhất trong lời nói và việc làm, đó là "tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn đến tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành". Cho đến phút cuối cùng trong cuộc đời mình, trong di chúc của mình Bác cũng nói lên nỗi tiếc vì không được phục vụ nhân dân lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa.

Thêm nữa, lòng yêu nước ấy gắn với sự gần gũi nhân dân, hiểu được tâm tư, suy nghĩ của các tầng lớp nhân dân. Bác thường mời GS Hoàng Xuân Hãn đến nói chuyện và chăm chú lắng nghe GS phản ánh tệ nạn nhũng nhiễu ở địa phương. Bản thân Bác bình quân mỗi tháng đến với dân hơn ba lần. Tại phiên họp hội đồng chính phủ, Bác đã phê phán các Bộ trưởng, Thứ trưởng "các đồng chí là người có công, có kinh nghiệm nhưng bây giờ Bác thấy các đồng chí đang xa dân rồi đấy. Các đồng chí phải tự hỏi xem xem mỗi tháng mình đến với dân bao nhiêu lần. Có đến với dân mới hiểu dân được".

Bác cũng là tấm gương lớn về đạo đức cần kiệm liêm chính. Về điểm này cần phải hiểu đúng, không phiến diện. Kiệm là việc không đáng tiêu, một xu cũng không tiêu, việc đáng tiêu thì bao nhiêu cũng không tiếc. Đó mới là tinh thần đạo đức của Bác. Chúng ta học tập tư tưởng của Bác là học tập cái tinh thần ấy, cũng như Bác nói chúng ta học tập chủ nghĩa Mác - Lênin là học tập tinh thần của chủ nghĩa ấy, chứ không học tập một cách giáo điều. Bình thường, Bác rất tiết kiệm, tiếp khách cũng mặc quần áo kaki giản dị nhưng phải là phẳng phiu.

Bác suốt đời vì nước vì dân, luôn giữ cho đạo đức trong sáng. Cuộc đời của Bác không bao giờ có khoảng cách quá xa với đời sống nhân dân. Bữa cơm của Bác cũng đạm bạc, chỉ 3 khô 1 canh. Khi mọi người đề nghị Bác dùng máy bay, Bác nhẹ nhàng nói máy bay để cho bộ đội diễn tập, "chú tưởng Bác làm Chủ tịch nước muốn gì cũng được à?".

Nói về đời sống thực tế, Bác thuận theo lẽ tự nhiên một cách mẫn tuệ. Một vị linh mục cho rằng Bác không lấy vợ là "siêu tự nhiên", Bác nói lại ngay "tôi thế là phản tự nhiên đấy". Một họa sỹ Đức đến đề nghị được vẽ chân dung của Bác, và 1 tuần sau anh mang tranh đến để Bác góp ý, Bác nói "chú tài lắm, chỉ trong một tuần mà chú đã vẽ được hai anh em Hồ Chủ tịch rồi". Anh họa sỹ hiểu rằng mình vẽ chưa được hay.

Có một lần, Mao Trạch Đông nói với Bác, chúng tôi đang làm cách mạng văn hóa, Việt Nam nên làm cách mạng văn hóa như chúng tôi. Bác trả lời "đất nước chúng tôi đang làm cách mạng vũ hóa, thời gian đâu mà làm cách mạng văn hóa", Mao Trạch Đông đành... cười và chịu thôi. Những ví dụ nhỏ ấy thể hiện tầm trí tuệ và tài ứng đối của Bác. Bác hiểu biết sâu rộng Đông Tây Kim Cổ để vận dụng sáng tạo vào công việc cụ thể của đất nước chứ không bao giờ sao chép y nguyên.

Tóm lại, trí tuệ, đạo đức và tư tưởng, tấm gương của Bác có sức cảm hóa rất lớn mọi tầng lớp nhân dân cũng như với bạn bè quốc tế.

Triết lý phát triển? Phải cụ thể và đơn giản hoá như Bác nói

TS Trần Đình Thiên

TS Trần Đình Thiên

TS Trần Đình Thiên: Tôi muốn bổ sung thêm một ý về nhân cách Chủ tịch Hồ Chí Minh. Với tư cách một lãnh tụ, tôi muốn nhắc đến một khẩu hiệu mà Bác dồn rất nhiều tâm huyết, cũng gắn với điều anh Khương trăn trở, đó là khẩu hiệu "người cày có ruộng" để đất nước đạt được mục tiêu của mình. Để cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc thắng lợi được thì phải nhờ khẩu hiệu ấy.

 Đọc quyển "Kinh tế học và cuộc chiến tranh nổi dậy" của một nhà nghiên cứu Mỹ giải thích cuộc chiến và thắng lợi của VN bởi cộng sản chỉ có một vũ khí duy nhất là câu khẩu hiệu "dân cày có ruộng", bởi có dân ở trong khẩu hiệu ấy. Đó chính là triết lý.

 Tình cảm, nhân cách vì dân tộc của người lãnh tụ phải thành triết lý, thành tư tưởng chiến lược. Cụ thể hơn, phải nhìn nhận những câu khẩu hiệu để nói cho người dân nghe, người dân hiểu như là "Người cày có ruộng" và "Không có gì quý hơn độc lập tự do" chính là triết lý của công cuộc giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Đó chính là biểu hiện cụ thể nhất của trí tuệ, nhân cách tư tưởng của Bác với tư cách của người lãnh tụ đã giành lại đất nước này cho dân tộc Việt Nam.

Giờ đây, khi đất nước hòa bình, sứ mệnh giải phóng dân tộc đã hoàn thành, triết lý phát triển cần được hiểu như thế nào? Đây là điều cần thảo luận và bàn thảo rõ, nghiêm túc và cởi mở. Bước vào thời đại mới, vào hội nhập ta cần triết lý gì, ta đã có chưa, cần triết lý mới hoàn toàn hay điều chỉnh triết lý cũ của 20-30 năm trước. Anh Khương đặt ra câu hỏi đi tìm triết lý phát triển cho VN được bạn đọc VietNamNet hưởng ứng là rất ý nghĩa.

Phải nhìn nhận những câu khẩu hiệu để nói cho người dân nghe, người dân hiểu như là "Người cày có ruộng" và "Không có gì quý hơn độc lập tự do" chính là triết lý của công cuộc giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Đó chính là biểu hiện cụ thể nhất của trí tuệ, nhân cách tư tưởng của Bác với tư cách của người lãnh tụ đã giành lại đất nước này cho dân tộc Việt Nam.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Vậy, tiếp nối tư tưởng của Bác, với con đường của Bác, triết lý phát triển của thế kỷ 21 nên hiểu như thế nào, theo ông?

TS Trần Đình Thiên: Luận điểm của anh Khương cũng xuất phát từ mong muốn để "Việt Nam sánh vai với các cường quốc năm châu" như Bác đã nói. Đầu tiên, tôi chia sẻ với anh Khương về mong muốn cho một VN hùng cường, rằng đất nước ta phải đột phá phát triển để đuổi kịp các nước. Nhưng có vẻ như cách đặt vấn đề đi tìm triết lý phát triển sẽ được hiểu là Việt Nam chưa có một triết lý phát triển thích hợp.

Câu hỏi đầu tiên cần làm rõ là triết lý phát triển là gì? Ở đây có mấy cấp độ để nhìn nhận. Thứ nhất, đó là một hệ thống các nguyên lý phát triển tạo thành chủ thuyết phát triển cho một dân tộc trong một giai đoạn nhất định, áp dụng cho cả xã hội, phục vụ nhà nước, áp dụng cho lực lượng lãnh đạo.

Thứ hai là triết lý phát triển phải rất đơn giản, toát ra được tinh thần của thời đại, phải trở thành triết lý cho người dân ở trình độ nào cũng hiểu được như câu khẩu hiệu "người cày có ruộng", "không có gì quý hơn độc lập tự do" là triết lý của sự nghiệp giải phóng đất nước giành độc lập cho dân tộc. Hay câu "làm giàu là vinh quang" của Đặng Tiểu Bình được xem như tuyên ngôn phát triển của Trung Quốc, khiến người dân hiểu một cách tiếp cận mới về lao động... Hay câu khẩu hiệu phát triển của Giang Trạch Dân "tiến cùng thời đại" của Trung Quốc có giá trị cổ động lớn, đặt Trung Quốc dù đi sau nhưng có động lực vươn lên. Tôi hiểu đấy chính là triết lý phát triển cho xã hội Trung Quốc, cổ động người dân cả về quyết tâm lẫn phương thức hành động. Phải chăng ta cũng cần cách đặt vấn đề như thế?

Thứ ba, triết lý phát triển phải là triết lý thực tiễn, thành cơ chế vận hành, thành khuôn khổ hành động cho nền kinh tế. Tôi cho rằng phải thảo luận triết lý phát triển theo tinh thần, cấp độ như vậy, chứ chỉ dừng lại ở quyết tâm, ở những lời cổ động thì chưa đủ. Thời đại nào, đất nước nào cũng cần có quyết tâm phát triển, cần đua tranh nhưng gắn với động cơ nào, trong khuôn khổ cơ chế vận hành nào? Cách đặt vấn đề của anh Khương rất cần được thảo luận kỹ, mở rộng đề tài.

"Cần nghiên cứu áp dụng nhiều điều Bác từng nói về quản lý đất nước"

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Ông Nguyễn Huy Hoan có ý kiến gì về những luận điểm của ông Trần Đình Thiên?

Ông Nguyễn Huy Hoan: Triết lý phát triển, hay cụ thể là con đường phát triển, là vấn đề khó, trong tình hình hiện nay chúng ta cần nghiên cứu rất nhiều những bài học truyền thống của VN, những luận điểm của Bác Hồ, của các nước và căn cứ vào tình hình VN để tìm ra con đường chúng ta đi. Có những luận điểm Bác nói từ thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, đến bây giờ vẫn cần nghiên cứu áp dụng.

 Bác nói ngoài phát triển sản xuất, ngoài huy động sức mạnh toàn dân, vấn đề quản lý đất nước cũng vô cùng quan trọng, Quản lý một đất nước cũng như quản lý một doanh nghiệp, cái gì ra, cái gì vào, việc gì cần làm ngay, việc gì cần chờ, hoãn hay bỏ, tất cả đều phải tính toán cẩn thận. Điều này càng cần trong sự nghiệp quản lý đất nước ngày nay. Nếu quản lý không tốt, con đường đi lên sẽ bị chậm. Bác đã thừa nhận, về mặt này chúng ta làm còn thiếu kinh nghiệm. Nhiều vấn đề Bác đặt ra rất sớm, như ngay từ khi hòa bình lặp lại Bác đã đề cập đến việc kêu gọi đầu tư của nước ngoài, hay vấn đề làm khoán. Tuy có vấn đề ta làm chậm, nhưng thực tế đến đâu Bác nói đến đấy, cần nghiên cứu luận điểm của Bác trong thời điểm này, rồi nghiên cứu nhiều học thuyết để tìm ra con đường phát triển phù hợp cho đất nước.

Nhiều vấn đề Bác đặt ra rất sớm, như ngay từ khi hòa bình lập lại Bác đã đề cập đến việc kêu gọi đầu tư của nước ngoài, hay vấn đề làm khoán.

"Nếu tận dụng thời cơ hội nhập sẽ tiến kịp thời đại"?

TS Trần Đình Thiên: Tôi cũng đồng ý rằng triết lý phát triển cần đáp ứng các vấn đề: một là phải phản ánh tinh thần dân tộc, hai là phù hợp với thời đại và ba là đồng nhịp với thế giới, nếu đóng kín thì sẽ tự huỷ hoại. Điều này đặc biệt đúng với Việt Nam ngày nay. Thậm chí ngay cả trước đây, trong thời kỳ Bác ra đi tìm đường cứu nước, ba điều đó cũng hòa quyện với nhau thành một triết lý tồn tại và phát triển của đất nước trong thời chiến tranh giải phóng dân tộc.

Bây giờ, nguyên lý phát triển cũng đơn giản thôi, bởi triết lý phát triển phải là thứ đang được người ta cảm nhận  hành động và hưởng thụ lợi ích của nó. Nguyên lý của phát triển là thị trường, hội nhập, mở cửa, cùng với công thức phát triển của Đảng là "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh". Hai tuyến vấn đề đó đi liền với nhau, kết hợp chặt chẽ chính là triết lý tổng quát cho nước VN hiện đại phát triển. Có thể vào từng nhịp, chẳng hạn nhịp "hội nhập" bây giờ thì sẽ có những nội dung cụ thể hơn để thể hiện được quyết tâm, được tinh thần của nhịp ấy.

Trong một nghiên cứu trước đây, chúng tôi đã chứng minh rằng VN đang tụt hậu xa hơn khi so sánh với thế giới và rút ra kết luận, nếu VN muốn đuổi kịp thế giới bằng tốc độ tăng trưởng GDP thì không được. Bởi dù VN tăng trưởng 15% thì từng phần trăm tăng trưởng vẫn rất bé. Giả sử VN tăng 15% mà Singapore 1% cũng không bằng nếu so về số tuyệt đối. Do đó, trong cách đặt vấn đề phát triển, không nên chỉ hô hào về tốc độ, phải "công nghiệp hoá, hiện đại hoá" rút ngắn, gắn với tính triết lý phát triển: VN có thể tiến vọt về logic, về cơ cấu. Nghiên cứu về mặt lý luận cũng như thực tiễn chúng tôi cho rằng rất khả thi.

VN cùng với thế giới, dựa vào thế giới, dựa vào hội nhập để phát triển. Đây chính là triết lý, là khẩu hiệu phát triển cho VN giai đoạn hội nhập

Nếu kết hợp được tốc độ với cơ hội hội nhập với một thế giới đang chuyển sang kinh tế tri thức thì Việt Nam mới có thể sánh vai với các cường quốc năm châu.

Triết lý này tất nhiên phải đặt trong giả định thế giới toàn cầu hoá, kinh tế tri thức, đây là cơ hội để VN rút ngắn khoảng cách, tiến kịp thế giới. Nói vắn tắt, nếu tận dụng thời cơ hội nhập sẽ tiến kịp thời đại. Đây chính là vấn đề đặt ra với VN. VN cùng với thế giới, dựa vào thế giới, dựa vào hội nhập để phát triển. Đây chính là triết lý, là khẩu hiệu phát triển cho VN giai đoạn hội nhập, tóm lược được hào khí phát triển, điều kiện và cơ hội VN có thể và cần phải tận dụng.

Đột phá? Ở đâu và như thế nào? Không thể chỉ hô hào quyết tâm!

TS Vũ Minh Khương: Về bước đi đột phá, chúng ta nên:

+ Xúc tiến thảo luận, tổng kết kinh nghiệm hay nhất của các nước trong từng lĩnh vực như Nhật bản đã làm thời cải cách Minh Trị để toàn dân trao đổi, chắt lọc lấy tinh hoa, và thấy rõ chúng ta cần và có thể học gì từ thế giới.

+ Trên cơ sở hiểu thấu đáo thế giới và tiềm năng của đất nước, chúng ta vạch ra được tầm nhìn táo bạo và đồng thuận về vị thế tương lai của Việt nam trong 4-5 thập kỷ nữa tới.

+ Dân chủ hóa để tìm người tài và tâm huyết nhằm thể nghiệm sức mạnh đột phá của triết lý phát triển mới, trong đó có các dự án thử nghiệm như xây dựng “Thành phố đẳng cấp quốc tế”.

+ Nguồn thu từ dầu mỏ cần được dành toàn bộ cho nỗ lực cải tổ và nâng cấp ngành y tế và giáo dục của Việt Nam lên đẳng cấp quốc tế. Chúng ta nên tự coi mình như Nhật Bản, Hàn Quốc (là những nước không có dầu mỏ) để tiết chế trong các quyết định tài chính và luôn ý thức sống còn về nuôi dưỡng và phát triển nguồn lực con người.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Bạn Vũ Xuân Thủy (huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên): Tôi rất tâm đắc với những vấn đề nêu ra trong loạt 3 bài viết của TS Vũ Minh Khương. Vậy đề nghị các vị khách mời, bằng cảm nhận của riêng mình hãy nói một cách vắn tắt và ngắn gọn là làm cách nào để VN phát triển kinh tế xã hội, ổn định chính trị và không bỏ lỡ cơ hội?

TS Trần Đình Thiên: Câu hỏi của bạn đã bao quát được hầu hết các việc VN phải làm. Trong điều kiện chúng ta còn nghèo, chưa nhiều kinh nghiệm phát triển kinh tế thị trường trong điều kiện cạnh tranh, kinh tế tư nhân còn mỏng và kinh tế nhà nước chưa thực sự hiệu quả thì để giải quyết những vấn đề phát triển thì phải biết chọn những đột phá như TS Vũ Minh Khương đã nói. Nhưng đột phá ở đâu và như thế nào thì phải bàn kỹ, phải được trả lời một cách rất thực tiễn, chứ không chỉ là hô hào, quyết tâm?

Thứ nhất, phải nhận diện xem mình yếu nhất chỗ nào và đột phá phát triển chính là giải quyết điểm yếu đó. Đột phá có hai loại, thứ nhất, về chính sách và cơ chế, như giai đoạn những năm 86 - 90 chúng ta đã làm. Đột phá khi đó là thay đổi hẳn triết lý phát triển, từ kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường, đưa đất nước chuyển sang bước ngoặt mới.

Thứ hai, có một cách đột phá mới và đây là thời điểm VN cần dùng, là đột phá vào những dự án lớn để làm thay đổi hoàn toàn cục diện nền kinh tế và tạo sức lan tỏa.

Quan sát kinh nghiệm của Trung Quốc, chúng tôi nhận thấy họ làm những dự án đột phá rất hiệu quả. Toàn bộ những dự án làm ven biển đã thực sự có tác động đến toàn cục nền kinh tế. Chẳng hạn như Thâm Quyến, sau 27 năm, từ một vùng nông thôn với hai trăm ngàn dân, đến nay đã thành một đô thị lớn với hơn mười hai triệu người, từ mức thu nhập bình quân chỉ khoảng 100$ nay họ có thu nhập bình quân 8000$, sản xuất ra lượng GDP 74 tỷ đôla Mỹ, nhiều hơn toàn bộ nền kinh tế 84 triệu người của VN (hơn 60 tỷ). Từ sự đột phá của Thâm Quyến tạo ra sức lan tỏa. Đây chính là điểm chúng ta đang rất thiếu. Ta có nhiều dự án lớn, có những vùng kinh tế trọng điểm, nhưng chưa thể tạo ra đột phá.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Tại sao chúng ta không có sự đột phá, không bật lên mặc dù chúng ta cũng học tập mô hình Trung Quốc rất nhiều, ví dụ như việc xây dựng những khu chế xuất, những đặc khu kinh tế... ?


TS Trần Đình Thiên: Để trả lời câu hỏi đó, chúng ta phải trở lại bàn về câu chuyện thể chế. Sau 20 năm thực hiện kinh tế thị trường, VN đi sau, học hỏi kinh nghiệm nhưng chưa có một thể chế thị trường đồng bộ. Ngoài ra, trong cái đồng bộ của ta, ta có một số điểm gây trở ngại lớn cho quá trình cải cách, đổi mới của VN, đó chính là giai đoạn kích cầu đầu tư. Để làm thị trường sôi động, chúng ta phải bơm tiền đầu tư của nhà nước, vô hình chung chúng ta cản trở quá trình tiếp cận thị trường, tạo sự xung đột về quá trình cải cách.

 Không phải vì thị trường đất đai, thị trường lao động và thị trường hàng hoá kém đồng bộ mà mỗi ngành, địa phương, khu vực thành một thị trường với cơ chế riêng, tạo sự khấp khểnh, chi phí vận hành nền kinh tế sẽ lớn.

Tại sao chúng ta không có sự đột phá, không bật lên mặc dù chúng ta học tập mô hình Trung Quốc rất nhiều, ví dụ như việc xây dựng những khu chế xuất, những đặc khu kinh tế... ?

 Trong điều kiện đó thì cách san lấp thị trường duy nhất là phân phối vốn bình quân cho mọi tỉnh, mọi ngành nghề. Mà cách này thì không thể nào có đột phá, không thể có những dự án trọng điểm, rồi mỗi tỉnh có cơ chế riêng thì không thể có sự liên thông giữa các tỉnh.

Nếu tạo được sự liên kết vùng giữa các vùng kinh tế trọng điểm, trên cái nền không có xung đột, trong điều kiện hội nhập, sẽ bùng dậy, riêng về tốc độ sẽ là 15%/năm kéo dài chứ không chỉ vài năm và chất lượng cũng được cải thiện. Chất lượng được cải thiện trước sẽ là điều kiện đảm bảo tăng về số lượng và thời gian phát triển bền vững.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Như vậy, ở đây chúng ta đang gặp phải tư duy phát triển dàn trải, bình quân?

TS Trần Đình Thiên: Giai đoạn vừa qua, chúng ta phát triển theo chiều rộng, quảng canh, mục tiêu cao nhất là tốc độ, giải quyết thiếu hụt, khan hiếm của thị trường.

Hiệu quả, chất lượng, sức cạnh tranh và tìm lợi thế riêng

1
Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Nhưng phát triển theo chiều rộng đã giúp chúng ta thu hẹp được khoảng cách vùng miền... Vấn đề là bây giờ nên đẩy tiếp theo hướng nào để tăng tốc và tạo sự đột phá?

TS Trần Đình Thiên: Giai đoạn phát triển trước chúng ta đã cởi trói, bùng dậy nên phải tận dụng mọi nguồn lực sẵn có. Điều này đi liền với điều không mong muốn là "duy tốc độ", quá chú trọng tốc độ. Chúng ta có tốc độ tương đối tốt nhưng chất lượng chưa tốt, hiệu quả chưa cao, khả năng cạnh tranh chưa được cải thiện. Nhận xét tăng trưởng về mặt tốc độ chưa đáng tiềm năng, về chất lượng chưa có những cải thiện đạt mức mong muốn.

Trong nền kinh tế thị trường, thị trường sẽ phân phối nguồn lực, muốn tăng trưởng nhanh thì phải lắng nghe thị trường.

Thời đó qua rồi, chúng ta phải chuyển sang mô hình tư duy mới, chỉ thay đổi một chút, ưu tiên hơn về chất lượng và sức cạnh tranh, dựa trên nguyên tắc lợi thế. Hiệu quả, chất lượng, sức cạnh tranh và trên tinh thần lợi thế riêng, chỉ như thế thì VN mới bùng dậy được.

Nguyễn Anh Tuấn: Đó là nguyên lý chung. Vậy theo quan điểm của riêng ông, nơi nào có thể tạo đột phá riêng, và tư duy khác ở chỗ nào?
TS Trần Đình Thiên: Trong nền kinh tế thị trường, thị trường sẽ phân phối nguồn lực, muốn tăng trưởng nhanh thì phải lắng nghe thị trường. Có điều rõ ràng là những vùng nào phát triển nhất, như các vùng kinh tế trọng điểm của cả Bắc, Trung, Nam sẽ là nơi hút đầu tư vào, bùng dậy sẽ từ đó... Quá trình này cũng đang diễn ra trên thực tế. Khi đó, sẽ có những chênh lệch về vùng miền, các nhà đầu tư trong và ngoài nước sẽ theo tiếng gọi của thị trường. Còn với những vùng miền khác phải phát triển như thế nào thì cần nhà nước, chính phủ phải quan tâm.

Nhà nước "đột phá" vào con người, chuyện làm ăn cụ thể để tư nhân lo

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Vậy vai trò lãnh đạo của nhà nước trong tư duy phát triển là như thế nào?

TS Trần Đình Thiên: Trong điều kiện hội nhập, nhà nước phải tổ chức, dẫn dắt quá trình hội nhập. Chẳng hạn, với các vùng kinh tế trọng điểm cần chú trọng cơ sở hạ tầng và hệ thống thể chế công bằng, cơ chế thông thoáng để thu hút đầu tư, bằng những chính sách về phát triển đô thị... Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam vẫn không thực hiện được, TPHCM và Bình Dương vẫn riêng biệt, tồn tại một con đường bị nghẽn. Vậy thì, nhà nước phải giữ vai trò kết nối các địa phương trong vùng trọng điểm bằng hạ tầng, quy hoạch, nguồn nhân lực, quy chế cho lao động, yểm trợ về phát triển đô thị. Tới đây, nhà nước cần tập trung vấn đề này thì mới tạo ra đột phá.

Rồi với nước ta, không thể có chuyện nhà nước để xảy ra sự phân biệt sâu sắc, chênh lệch lợi ích quá mức, tạo ra sự chia rẽ giữa các vùng miền. Vậy thì nhà nước phải hỗ trợ cho những vùng khó khăn để người dân ở đó có điều kiện tiếp cận với thị trường mà vươn lên.

Vai trò của nhà nước là rất quan trọng, thúc đẩy vùng kinh tế trọng điểm ngăn không cho khoảng cách chênh lệch giàu nghèo tăng lên.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Giả sử nhà nước hoàn thành được hai vai trò đó thì còn trở ngại nào về tư duy, quan điểm nữa không?

TS Trần Đình Thiên: Còn rất nhiều vấn đề lớn đã đặt ra cần giải quyết. Ví dụ, tôi đề xuất: VietNamNet nên tổ chức thảo luận lớn về chủ đề vươn ra đại dương, về chiến lược biển. Cách đặt vấn đề này đã đưa nền kinh tế VN có tầm vóc rất khác. Xưa nay, chỉ xem biển là nơi đánh cá và gần đây là khai thác dầu thô. Bây giờ, xem xét chiến lược địa chính trị, địa kinh tế, phải đặt vấn đề tư duy phát triển kinh tế VN kết nối giữa biển và đất liền sẽ đưa VN lên tầm vóc mới. Thoát khỏi tư duy đất liền, suy nghĩ vươn ra tầm mới, đi ra thế giới...

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Đúng là có nhiều hướng, nhiều tư duy phát triển, nhưng quan trọng nhất là con người. Vậy thì chúng ta có phải đột phá về con người không?

Nếu không có cán bộ tốt, vừa có tài, vừa có phẩm chất đạo đức, thì dù có đột phá đúng điểm, đúng trọng tâm vẫn không thể thành công được.

Ông Nguyễn Huy Hoan: Chiến lược vô cùng quan trọng là chiến lược con người, Bác Hồ cũng rất quan tâm đến vấn đề này. Chiến lược con người có nhiều vấn đề: chiến lược cán bộ, giáo dục thế hệ trẻ, đào tạo con người VN xứng đáng, thực sự có phẩm chất đạo đức tốt. Trong đó, cán bộ giữ vai trò vô cùng quan trọng. Nếu không có cán bộ tốt, vừa có tài, vừa có phẩm chất đạo đức, thì dù có đột phá đúng điểm, đúng trọng tâm vẫn không thể thành công được.

TS Vũ Minh Khương: Việc đưa ra đẩy đủ triết lý phát triển và các bước đi đột phá cho Việt Nam đòi hỏi trí tuệ và tâm huyết của cả nước. Từ góc nhìn hẹp của bản thân, ngoài những điều đã  trình bày trong bài viêt, tôi chỉ xin nêu rõ thêm mấy điểm sau:

Về triết lý phát triển, chúng ta cần khẳng định rõ: toàn bộ tài sản của đất nước nằm chính trong con người Việt Nam. Tài sản này được đo bằng tri thức, thể chất, tình đồng bào, lòng tự hào dân tộc, và ý chí vươn lên. Vì vậy, mọi đầu tư của quốc gia phải coi gia tăng tài sản này là nhiệm vụ hàng đầu. Việc chấp nhận triết lý này sẽ có nghĩa là chúng ta phải coi việc đầu tư cho người dân, đặc biệt trẻ em những điều kiện thiết yếu cho phát triển thể chất, tri thức, và nhân cách là tối quan trọng; trong khi việc đầu tư vào ngành công nghiệp này khác nên để các thành phần kinh tế tư nhân thực hiện...

"Ra biển mà vẫn mang tư duy con trâu, cái cày thì chỉ có thể mò cua, bắt ốc!"

TS Trần Đình Thiên: Khi nói về vấn đề biển tôi sẽ nói về vấn đề con người. Tại sao chúng ta vẫn tiến ra biển vẫn theo kiểu đánh cá gần bờ, bởi năng lực để chinh phục biển của ta quá hạn chế. Ra biển mà mang tư duy con trâu, cái cày, thì chỉ có thể mò cua, bắt ốc. Ở đây có cả vấn đề công nghệ, trình độ phát triển và năng lực con người. Không chỉ đất liền hay biển mà tới đây ta sẽ vươn tới cả không gian bầu trời, chuyện con người càng cần đặt ra để chú trọng giải quyết.

Tự bản thân hệ thống giáo dục có giải quyết được vấn đề của mình không? Đây là câu hỏi đặt ra và cần tìm lời giải. Bấy lâu nay, đào tạo nguồn nhân lực mới chỉ tập trung vào học vấn, mà mục đích đơn giản như thế thì dễ bị suy thoái. Thứ hai, cách tổ chức hệ thống giáo dục, đầu vào khó, nhưng đã vào rồi thì hầu như là ra được, cấp học nào cũng thế. Cách đặt vấn đề như thế là không đúng. Lẽ ra, đầu ra phải khó, vào dễ mấy cũng được nhưng trong quá trình học phải sàng lọc để đầu ra thật tốt. Nguyên lý sai thì rất cần phải thay nguyên lý.

Theo tôi, để tự hệ thống giáo dục loay hoay giải quyết vấn đề thì không thể được, bởi đầu ra của giáo dục sẽ do xã hội đánh giá. Vậy thì, một trong những phương thức cơ bản để cải tạo hệ thống giáo dục chính là hệ thống tuyển dụng từ xã hội, họ có chấp nhận sản phẩm của hệ thống đó không? Trước đây đầu ra của giáo dục chủ yếu phục vụ bộ máy nhà nước nên có phần dễ dàng, cào bằng. Nếu trả lương không tốt, trả lương để người ta không phải làm thì đầu vào của nhà nước, nghĩa là đầu ra của giáo dục, không quan trọng. Nếu nguyên lý của nhà nước là trả lương đúng năng lực và làm việc theo đúng yêu cầu thì sẽ thay đổi rất nhiều hệ thống giáo dục.

Hai là vấn đề thị trường. Hiện nay, giáo dục đại học đang được tác động trở lại bởi yêu cầu thị trường, theo đòi hỏi thị trường, ta đang kỳ vọng điều đó sẽ tạo sự thay đổi. Nhưng để có sự lan tỏa đến toàn bộ hệ thống giáo dục các cấp thì rất chậm. Vậy thì phải đột phá đào tạo đại học và dạy nghề để tạo sức lan toả. Và rất cần quan tâm đến đầu ra của hệ thống, kết nối giáo dục đào tạo với yêu cầu thị trường.

"Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng là câu chuyện của toàn dân"

1
Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Có một vấn đề là bộ máy quản lý nhà nước và bổ nhiệm đãi ngộ cán bộ, theo anh có cần đột phá không?

TS Trần Đình Thiên: Nhiều năm nay, dường như bước tiến ít nhất chính là trong cải cách hành chính. Thứ nhất, câu chuyện rất khó, 10 năm mà chưa làm được. Thứ hai, phải chăng ta làm chưa trúng.

Phải đặt vấn đề toàn diện là cải cách chính phủ cả về nhân sự, chức năng. Với nhà nước, một trong những khâu then chốt trong cải cách hành chính là tư duy về trả lương trong bộ máy phải thay đổi. Lương, lâu nay được quan niệm là phúc lợi xã hội mang lại, là phần phân phối thu nhập. Nhưng cần phải thay đổi, trả lương để nhận sản phẩm. Việc này đáng trả bao tiền, cần bao nhiêu người làm thì chỉ đúng bấy nhiêu, trả cho xứng đáng. Không phải nhà nước mà là công việc quy định tiền lương.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Vậy là cần đột phá về đào tạo nguồn nhân lực, về cách sử dụng nhân lực, bổ nhiệm cán bộ. Vậy còn có đột phá nào về mặt tư duy, tư tưởng?

TS Trần Đình Thiên: Một trong những nội dung được nêu trong ĐH 10 là "nâng cao năng lực và sự chế ước của Đảng". Đây là cách đặt vấn đề đúng bởi chúng ta rõ ràng phải tư duy lại mối quan hệ giữa kiến trúc thượng tầng và hạ tầng cơ sở và cấu trúc kinh tế phía dưới. Tự Chính phủ chưa phải là toàn bộ hệ thống lãnh đạo của chúng ta bây giờ, còn có Quốc hội, Đảng... Đây không chỉ là chuyện của Đảng mà đổi mới sự lãnh đạo của Đảng là câu chuyện của toàn dân.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Vậy là chúng ta lại tiếp thu bài học của Bác là gần dân và lắng nghe dân. Sắp tới hội nghị TƯ 5 sẽ bàn về cải cách hành chính, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và công tác tư tưởng, báo chí. Vậy theo ông, đây có phải là những đột phá cho phát triển không?

"Bác đã nói về mục tiêu bất di bất dịch của dân tộc Việt Nam "Không có gì quý hơn độc lập tự do". Thứ hai, mục tiêu của ta là phải xây một nước VN độc lập, thống nhất, dân chủ, giàu mạnh". Ông Nguyễn Huy Hoan

TS Trần Đình Thiên: Cách đặt vấn đề như thế đã cho thấy cái nhìn bao quát, tổng thể vấn đề. Xưa nay, chúng ta quen tư duy từng việc một chứ làm việc không đồng bộ... Gần đây, HNTƯ4 đã đặt ra nhiều chiến lược lớn. Vậy, phải đổi mới hệ thống chính trị như thế nào để thực thi các chiến lược ấy. Với cách đặt vấn đề tổng thể và hệ thống sẽ là cơ sở rất tốt để giải quyết.

Học Bác gần dân và lắng nghe dân

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Theo ông Nguyễn Huy Hoan, khi soi rọi tư tưởng của Bác, ta có thể học những bài học gì từ Bác để chuẩn bị cho những vấn đề lớn của đất nước?

Ông Nguyễn Huy Hoan: Bác đã nói về mục tiêu bất di bất dịch của dân tộc Việt Nam "Không có gì quý hơn độc lập tự do". Thứ hai, mục tiêu của ta là phải xây một nước VN độc lập, thống nhất, dân chủ, giàu mạnh.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Đó chính là chủ thuyết phát triển của ta trong thế kỷ 21?

Ông Nguyễn Huy Hoan: Đúng vậy. Ta phải học Bác trong việc huy động được hết sức mạnh toàn dân, đúng như Bác nói rằng có dân là có tất cả. Dù dân trình độ văn hóa có thể không cao nhưng dân rất thông minh, họ biết chọn những người tài, người tốt. Vậy thì phải thực sự dựa vào dân, huy động sức mạnh toàn dân.

Thứ ba, phải quán triệt tư tưởng của Bác là không được coi nhẹ chiến lược con người, gồm nhiều mặt, trong đó ngành giáo dục, công tác cán bộ và công tác tuyên truyền vận động quần chúng là quan trọng.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Như vậy, đột phá trong triết lý phát triển thời gian tới là tìm những điểm đột phá. Đột phá về chiến lược phát triển các vùng miền, về chính sách đối với con người, tiếp tục hiểu đúng và đi đúng con đường và chủ thuyết phát triển mà Bác đã chọn cho dân tộc trong thế kỷ 20 là "xây dựng VN độc lập, dân chủ, giàu mạnh".

Ta phải học Bác trong việc huy động được hết sức mạnh toàn dân, đúng như Bác nói rằng có dân là có tất cả. Dù dân trình độ văn hóa có thể không cao nhưng dân rất thông minh, họ biết chọn những người tài, người tốt. Vậy thì phải thực sự dựa vào dân, huy động sức mạnh toàn dân.

TS Trần Đình Thiên: Có lẽ ngoài hai đột phá lớn đó thì còn rất nhiều vấn đề khác cần đột phá. Chẳng hạn, làm thế nào để dân thật sự làm chủ. Về phía cơ chế, cần công khai minh bạch để dân cùng tham gia vào, nhưng làm sao để công khai minh bạch thì lại là chủ đề cần thảo luận.

Thứ hai, rất cần một nhà nước mạnh. Chúng ta cần dân chủ nhưng cũng cần một nhà nước mạnh. Cần một lực lượng tổ chức và dẫn dắt công cuộc phát triển, đặc biệt là hội nhập. Cải cách hành chính là phải tạo ra một nhà nước đủ mạnh để hội nhập chứ không phải chỉ để giải quyết những bùng nhùng, bởi ta đã tụt hậu quá xa.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Thời gian cũng đã dài, chúng ta đã khơi gợi ra nhiều vấn đề đáng suy nghĩ. Đó là nhìn nhận lại, suy ngẫm lại những bài học về con đường, về tư tưởng của Bác để phác thảo qua con đường đi của dân tộc trong thế kỷ hai mươi mốt. Chúng tôi xin dừng cuộc trao đổi ở đây, mong nhận thêm nhiều ý kiến trao đổi của độc giả VietNamNet. Xin cảm ơn các vị khách mời. 

  •  VietNamNet

Ý kiến của bạn?

  

               

,
Ý kiến của bạn
Ý kiến bạn đọc
,
,
,
,