221
452
Chính trị
chinhtri
/chinhtri/
946360
Quan hệ Việt - Mỹ: Những trùng hợp lịch sử ngẫu nhiên
1
Article
null
Quan hệ Việt - Mỹ: Những trùng hợp lịch sử ngẫu nhiên
,

(VietNamNet) - "Thực tiễn sống động của quan hệ Việt - Mỹ là một bằng chứng để tin rằng quá khứ là cái không làm lại được nhưng tương lai là cái có thể tạo dựng như mong muốn. Những bài học của quá khứ sẽ luôn có ích"... Nhân chuyến thăm của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, nhà sử học Dương Trung Quốc đã điểm lại những dấu ấn và những trùng hợp lịch sử ngẫu nhiên của quan hệ Việt - Mỹ.

Nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải hội đàm với Tổng thống Mỹ Bush trong chuyến viếng thăm năm 2005.

1. Trong vốn từ vựng của người Việt Nam (VN), cái đèn thắp bằng dầu hoả thường được gọi là “đèn Hoa Kỳ”. Cái tên ấy có tự bao giờ đến nay vẫn chưa ai xác định. Chỉ biết từ xưa, người VN thắp sáng bằng các loại dầu thực vật hay mỡ động vật. Sau khi dầu hỏa (Hoa Kỳ là xứ sở tiên phong) được biết tới thì loại dầu mỏ này đã chảy đi khắp thế giới. Có chuyện rằng, để người VN chấp nhận sử dụng loại chất đốt này, các nhà buôn Hoa Kỳ bèn "tiếp thị" bằng việc phát tặng đèn khi khách mua dầu.

Đèn dầu thắp sáng hơn, tiện dụng hơn và có thể là kinh tế hơn khiến người VN chấp nhận. Để dễ phân biệt với các loại đèn truyền thống, nó được gọi là “đèn Hoa Kỳ”. Đến nay, người VN vẫn gọi như vậy cho dù chiếc đèn mà họ đang sử dụng có thể được làm ở VN hay bất kỳ nơi nào.

Mang lại lợi ích cho nhau, người được hưởng ánh sáng, sự tiện dụng và kẻ được hưởng lợi nhuận có thể coi là một biểu tượng tốt đẹp không chỉ đối với quá khứ mà đang trở thành nguyên tắc của mối liên lạc giữa các quốc gia - dân tộc trong thế giới hiện đại. Do vậy, chiếc đèn dầu hoả liệu có thể được coi là cái “logo” của lịch sử biểu trưng cho quan hệ Việt - Mỹ(!?).

Đó là chuyện xa xưa. Ngày nay trong ký ức của số đông những người Mỹ và VN đã đứng tuổi thì quan hệ Việt - Mỹ còn là những dấu ấn của một cuộc chiến tranh khốc liệt. Sử gia Mỹ thì ấn định thời gian nước Mỹ dính líu với cuộc chiến tranh ở VN là kể từ sau Hiệp nghị Geneva (1954) và kết thúc với Hiệp định Paris (1973). Nhưng sử gia VN thì cho là nó kéo dài từ khi Mỹ viện trợ cho Pháp trong cuộc Chiến tranh Đông Dương, khoảng đầu thập kỷ 50 của thế kỷ trước cho tới thời điểm những người lính thuỷ đánh bộ Mỹ tháp tùng vị đại sứ của mình lên máy bay trực thăng rời khỏi Sài Gòn năm 1975… Nhưng lịch sử mối quan hệ VN - Hoa Kỳ không chỉ có thế!

2. Một số nhà sử học đã từng viết về một vị quan triều Nguyễn tên là Bùi Viện (1821-1882), người từng lặn lội sang Hoa Kỳ, gặp được Tổng thống Mỹ thứ 18, Ulisse S. Grant (1869-1877), nhưng không thiết lập được mối quan hệ giữa hai nước vì thiếu những thủ tục ngoại giao…

Còn người Mỹ lại có cuốn du ký của một nhà hàng hải Mỹ tên là John White, thuyền trưởng tàu “Franklin” xuất phát từ bang Masachusett từng cập bến Sài Gòn năm 1819. Cuốn sách “Câu chuyện về cuộc hành trình tới biển Trung Hoa” (History of a voyage to the China Sea) xuất bản tại Boston 4 năm sau đó (1823) đã dành tới nửa số chương để tả lại cảnh vật và cuộc sống Sài Gòn. Viên thuyền trưởng này đặc biệt ấn tượng về ngành đóng tàu của VN. Sách sử VN viết về cuộc viếng thăm này cũng như nhiều cuộc tiếp xúc khác song cũng xác nhận rằng quan hệ nhà nước giữa hai quốc gia vẫn không thể thiết lập được, chủ yếu vì những khác biệt trong văn hóa giao tiếp.

Nhưng có một người Mỹ nổi tiếng sớm biết đến VN với một địa danh phổ biến trong các tấm hải đồ thế giới ở thế kỷ XVIII là “Cochinchina” (Đàng Trong). Ông cũng chính là vị luật sư đã chấp bút soạn thảo văn bản “Tuyên ngôn Độc lập” để G. Washington tuyên đọc năm 1776 khai sinh ra nền Độc lập của Hoa Kỳ. Trong cương vị Công sứ của Hoa Kỳ tại Pháp, ông đã từng gặp một vị hoàng tử VN (con của Chúa Nguyễn Ánh đã theo cha cố Pigneau de Béhaine sang Pháp xin cứu viện) tại cung điện Versailles… Ông là Thomas Jefferson (1743-1826), người sau này đã trở thành vị Tổng thống Hoa Kỳ thứ Ba (1801-1809).

Mối quan tâm của con người nổi tiếng này đối với xứ sở Cochinchina chính là những giống lúa đặc sắc mà ông muốn sưu tầm cho trang trại Shadwell và quê hương Virginia... Mong ước ấy không thành hiện thực. Nhưng có một điều mà Th. Jeferson đã không bao giờ hình dung được là 170 năm sau khi bản Tuyên ngôn Độc lập được ông soạn thảo (1775), được vị Tổng thống lập quốc Georges Washington
tuyên đọc năm 1776, lại tiếp tục được một người VN trích dẫn để mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập của quốc gia mình vào năm 1945.

Người VN ấy là Chủ tịch Hồ Chí Minh, cũng lại là người VN để lại dấu ấn của mình tại thành phố Boston, New York vào thời điểm Chiến tranh Thế giới lần thứ Nhất đang diễn ra ở châu Âu. Có một sự thực lịch sử nữa cần được khẳng định là trong cuộc cách mạng dành độc lập của VN tháng Tám năm 1945, thì Hoa Kỳ là quốc gia duy nhất đứng bên cạnh lực lượng Việt Minh trong quan hệ Đồng Minh chống chủ nghĩa phát xít Nhật!

3. Hình thái phân cực của thế giới sau Đại chiến Thế giới lần thứ Hai, sự trở lại của CN thực dân Pháp đe dọa nền độc lập và thống nhất của dân tộc VN cùng với những mục tiêu chiến lược của Hoa Kỳ trong thời Chiến tranh lạnh đã để lại trong lịch sử quan hệ Việt - Mỹ gần ba thập kỷ chiến tranh thù địch gây nhiều hậu quả cho cả hai dân tộc.

Các sử gia có thể tiếp tục tranh cãi về quá khứ, nhưng tất cả đều phải ghi nhận những thay đổi mạnh mẽ trong quan hệ hai nước. Từ khi Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton tuyên bố bình thường hoá quan hệ (1995) và đích thân sang thăm VN (2000), đáp lại là chuyến viếng thăm Hoa Kỳ của nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải (2005). Và mới đây là sự có mặt của Tổng thống Hoa Kỳ Georges Bush tại Hà Nội vào dịp APEC và thực hiện chuyến thăm chính thức (2006). Đó cũng là thời điểm VN chính thức gia nhập WTO, khẳng định quá trình hội nhập và phát triển của nền kinh tế VN mà Hoa Kỳ luôn là một trong những nhân tố quan trọng hàng đầu.

Sự tăng trưởng mối quan hệ kinh tế song phương giữa hai nước đã được minh chứng mạnh mẽ kể từ khi Hiệp định kinh tế Việt - Mỹ được ký‎ kết, và Quá trình hoàn tất thủ tục để VN gia nhập WTO. Năm 2007, trong bối cảnh các nhà đầu tư đến từ Hoa Kỳ đang tăng cường những hoạt động kinh tế ở VN thì chuyến viếng thăm của Chủ tịch Nguyễn Minh Triết là một biểu trưng mới của sự phát triển tốt đẹp.

4. Có một hiện tượng khá đặc biệt trong lịch sử quan hệ Việt - Mỹ là sau một cuộc chiến tranh ác liệt và kéo dài thì cựu chiến binh của hai nước lại là cái cầu sớm nhất được dựng lên để góp phần tích cực vào quá trình hoà giải một cách có trách nhiệm và hiệu quả cùng với quá trình bình thường hoá quan hệ giữa hai nhà nước và sự hợp tác làm ăn của các nhà kinh doanh.

Những tổ chức cựu chiến binh Mỹ đã tham gia vào chương trình tháo gỡ bom mìn, nhiều hoạt động nhân đạo, thực hiện những hành trình trở lại chiến trường xưa với ‎ý thức xoa dịu vết thương quá khứ...  Và gần đây nhất là sự kiện cuốn “Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm”...

Vai trò của các cựu binh Mỹ khi trở thành chính khách như các Thượng nghị sĩ John McCain, John Kerry cũng là những nhân tố tích cực thúc đẩy sự xích lại gần nhau của hai quốc gia. Vị đại sứ đầu tiên của Hoa Kỳ tại Hà Nội, ông Peter Peterson, một cựu phi công từng bị giam giữ ở VN cũng lại là một trong những người đóng góp nhiều công sức cho những bước khởi đầu của quan hệ hai nước.

Năm 1995 và 1997, hai lần Cựu Bộ trưởng Chiến tranh Hoa Kỳ, ông McNamarra đã đến Hà Nội diện kiến với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, cựu Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân VN. Cả hai lần ông McNamarra đều tìm kiếm những “cơ hội bị bỏ lỡ” và cũng như trong hồi ký của mình, ông nhận ra rằng chính sự thiếu hiểu biết về văn hoá và lịch sử VN khiến Mỹ đã sai lầm trong cuộc Chiến tranh này. Còn vị lão tướng VN thì khẳng định rằng VN là một đất nước còn nghèo và luôn mong hoà hiếu nên có bất kỳ một cơ hội nào đều không để lỡ, chỉ cầm súng vì độc lập, tự do và sự thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của mình.

5. Năm 1998, con trai của cố Tổng thống Hoa Kỳ JF Kennedy đến thăm ông Võ Nguyên Giáp tại tư gia. Trong cuộc gặp đó, vị Đại tướng 88 tuổi nói với người khách trẻ Hoa Kỳ kém mình đúng nửa thế kỷ rằng: ”Số đông những người Mỹ, nhất là giới trẻ, chỉ biết quan hệ Mỹ - Việt là một cuộc chiến tranh kéo dài và đầy hận thù. Đó là một sự thật. Nhưng còn một sự thật nữa mà giới trẻ hai quốc gia phải biết đến: chúng ta đã từng là đồng minh trong cuộc đấu tranh chống CN phát xít, và giờ đây phải viết tiếp những trang sử về sự hợp tác và tình hữu nghị…”

Đầu thế kỷ XXI này, nước VN đang tiếp tục tiến trình Đổi mới và Hội nhập. Đó là hai nhân tố giúp phát triển. Đương nhiên, quan hệ Việt - Mỹ có một vị thế quan trọng trong một nguyên lý chung mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thông điệp với toàn thế giới ngay từ khi nước VN độc lâp mới ra đời (1945): ”Việt Nam muốn hợp tác với tất cả các nước dân chủ, không muốn gây thù oán với ai”. Và có lúc đã đặt lòng tin mạnh mẽ khi bày tỏ quan điểm trong một văn kiện gửi tới chính phủ Hoa Kỳ: “Việt Nam chủ trương độc lập hoàn toàn và hợp tác toàn diện với Hoa Kỳ”(1946).

Bài học rút ra từ trải nghiệm buộc phải "chiến tranh" với nhiều quốc gia mang quân tới VN trong thế kỷ XX (Pháp, Nhật, Mỹ, Trung Quốc và có thể kể thêm cả những đồng minh của Mỹ trong cuộc Chiến tranh VN như Hàn Quốc, Tân Tây Lan, Australia, Thái Lan…) và thực tiễn giờ đây tất cả các quốc gia trên, trong đó có Hoa Kỳ đều đã trở thành những nhân tố tích cực vào sự phát triển của VN, cho thấy những thay đổi sâu sắc của thời đại và cũng thể hiện năng lực hoà giải với quá khứ và hội nhập với tương lai của VN.

Chiến tranh luôn chỉ là khoảnh khắc của lịch sử. Thực tiễn sống động của quan hệ Việt - Mỹ mà chúng ta đã và đang chứng kiến là một bằng chứng để tin tưởng rằng quá khứ là cái không làm lại được nhưng tương lai là cái có thể tạo dựng như mong muốn. Những bài học của quá khứ sẽ luôn có ích, trong đó có bài học đọc được trong những trang sử tốt đẹp, từ “cây đèn Hoa Kỳ” đến đến hai bản tuyên ngôn độc lập của hai dân tộc cũng như những gì đang diễn ra…

Đó là những nhân tố lịch sử giúp chúng ta tin tưởng vào tương lai quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ.

  • Dương Trung Quốc

Ý kiến của bạn:

,
Ý kiến của bạn
Ý kiến bạn đọc
,
,
,
,