,
221
3662
Nhận định
nhandinh
/nhandinh/
797352
Chân lý từ những điều dung dị
1
Article
null
,

Chân lý từ những điều dung dị

Cập nhật lúc 03:55, Thứ Năm, 18/05/2006 (GMT+7)
,

(VietNamNet) - Một sự dồn nén, chưng cất của ý tưởng, tình cảm đạt tới độ minh triết trên một tầm vóc tư duy không bị ràng buộc và câu nệ bởi bất cứ cái gì: thời gian thúc bách hay không gian hạn hẹp cho những "điều mong muốn cuối cùng". Vì thế, chúng ta có quyền tin chắc vào độ “chín”, đạt đến sự tường minh của tư tưởng trình bày trong Di chúc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thǎm Viện Mắt (1956). Ảnh: cimsi.org.vn

 Thời gian đã chứng minh được sức bền, độ “chín” của tư tưởng Hồ Chí Minh.

Với sự trải nghiệm của một nhà cách mạng từng bôn ba khắp chân trời góc bể, hiểu kỹ những thành tựu cũng như thất bại, tinh hoa cũng như khuyết tật của phong trào cách mạng, Hồ Chí Minh biết rõ dân tộc mình, nhân dân mình cần gì nhất.

Đọc kỹ “Điều mong muốn cuối cùng” của Hồ Chí Minh trong “Di chúc” của Người, chúng ta hiểu được rằng: với thời gian, chân lý bỗng vụt sáng lên từ trong những câu chữ vốn rất dung dị, mà người ta đôi khi cứ ngỡ như không còn gì để mà suy ngẫm nữa. Nhưng rồi, tỉnh táo trong nhận thức để không bị vướng bận bởi những màn sương hư ảo đã một thời che lấp tầm nhìn và sức nghĩ, càng suy ngẫm chúng ta càng thấm thía được rằng quả là “Hồ Chí Minh có sự nhạy cảm đặc biệt đối với lịch sử, thấu hiểu cuộc sống của con người, có nhận thức sâu về vận mệnh dân tộc, về hướng đi của thời đại”. (Phạm Văn Đồng).

Trên cái “hướng đi của thời đại” mà Hồ Chí Minh đã “nhận thức sâu” và đã quán triệt nó trong “điều mong muốn cuối cùng” ấy, suy ngẫm kỹ, chúng ta hiểu ra được phải dồn sức vào đâu, phải tập trung ý chí của dân tộc vào vấn đề gì, và bằng cách nào để thực hiện được.

Từ “Điều mong muốn cuối cùng”

Chân lý luôn luôn đơn giản, song hiểu được chân lý, đến được với nó lại cực kỳ gian truân. Mà gian truân nhất là minh định cho được chân lý với cái “na ná như chân lý”. Nhưng thời gian ủng hộ chúng ta, sự thật dần dần dần hiện rõ và chúng ta hiểu ra được sự đơn giản đó của chân lý, vì chân lý là cụ thể.

Chúng ta đọc thấy chân lý đó trong “Điều mong muốn cuối cùng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nếu “lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”(1) thì đến phút cuối, “chủ nghĩa yêu nước” đó tập trung trong “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là : Toàn Đảng toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước VN hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới ”.

Điều mong muốn ấy có sức vẫy gọi và quy tụ mọi tấm lòng VN.

“Chọn đúng vào một ngày tháng Năm, nhân dịp ngày sinh của mình; chọn đúng vào lúc 9 giờ, giờ đẹp nhất của một ngày, chọn đúng vào lúc sức khoẻ tốt nhất trong những năm gần đây… để viết về ngày ra đi của mình, sao mà Bác thanh thản, ung dung đến thế!” (2). Cứ thế, trong bốn năm, vào đúng giờ nhất định trong một ngày - tháng - năm Bác xem lại “Di chúc”, suy ngẫm và sửa chữa.

Trong cả bốn năm, xem đi xem lại nhiều lần, với “Điều mong muốn cuối cùng”, Người vẫn giữ nguyên không hề sửa một chữ.

Một sự dồn nén, chưng cất của ý tưởng, tình cảm đạt tới độ minh triết trên một tầm vóc tư duy không bị ràng buộc và câu nệ bởi bất cứ cái gì: thời gian thúc bách hay không gian hạn hẹp. Vì thế, chúng ta có quyền tin chắc vào độ “chín”, đạt đến sự tường minh của tư tưởng trình bày trong Di chúc.

Hồ Chí Minh nhìn thấu cái cốt lõi nhất của khát vọng mà nhân dân ta ấp ủ, nung nấu. Quả thật, “chân lý là cụ thể” ở sự đúc kết giản dị mà hết sức cô đọng từ những lý luận, những học thuyết loài người đã tìm tòi, phát hiện, sửa chữa, bổ sung để rồi còn đọng lại những gì được cuộc sống chấp nhận mà Hồ Chí Minh đã tiếp thu và vận dụng vào thực tế của đất nước mình.

Tư tưởng và lý luận không còn nằm trong những câu chữ, mà được ấp ủ từ trong trái tim yêu nước của Người. Để rồi toả sáng từ tầm cao trí tuệ của một chiến sĩ cách mạng từng bôn ba khắp năm châu bốn biển, một danh nhân văn hoá từng am hiểu sâu sắc truyền thống văn hoá của dân tộc mình để cởi mở và chọn lọc tiếp thu văn hoá, văn minh của loài người. Tư tưởng lý luận đó đã được hun đúc, hình thành và hoàn thiện bởi một nhân cách tuyệt vời trong sáng.

"Không phải cứ có quyền lực là có sự tha hóa"

Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí 
Tôn Đức Thắng, Lê Duẩn, Trường Chinh. Ảnh: hn.vnn.vn

Hãy chỉ tìm hiểu sự trong sáng ấy trong “ham muốn” của Người, “ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để câu cá , trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi.”

Đây là câu Hồ Chí Minh trả lời các nhà báo nước ngoài tại Hà Nội ngày 21.1.1946 với tư cách là Chủ tịch nước. Không chỉ là một ứng xử chính trị trong hoạt động ngoại giao của một chính khách, đây là điều tâm huyết, thường trực trong tình cảm và tư tưởng Hồ Chí Minh, trong cốt cách Hồ Chí Minh, một người am hiểu văn hoá Phương Tây song lại rất thấm nhuần triết lý Phương Đông, xuất thân trong một gia đình nho học.

Chúng ta lại đọc thấy ý tưởng ấy trong câu trả lời một nhà báo nước ngoài một năm sau đó, ngày16.7.1947: “Tôi chỉ có một điều ham muốn là làm cho Tổ quốc tôi được độc lập, thống nhất, dân chủ. Bao giờ đạt được mục đích đó tôi sẽ trở về làm một người công dân du sơn ngoạn thủy, đọc sách làm vườn”.

Thử hình dung xem, nếu cuộc sống đó được thực hiện, khác nào chuyện kể về cuộc đời những danh sĩ hiền minh trong lịch sử nước nhà như Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, hay như “Điều Ngự đệ nhất tổ” (vua Trần Nhân Tông) của Thiền phái trúc lâm Yên Tử… “du sơn ngoạn thủy, đọc sách làm vườn” và suy ngẫm về thế sự. Cốt cách và cuộc sống của Hồ Chí Minh cho phép ta hình dung ra những nhân cách thật là cao đẹp đó. Nó củng cố trong ta nhận thức: không phải cứ có quyền lực là có sự tha hoá.

Hồ Chí Minh là một trong những minh chứng đầy thuyết phục cho nhân cách cao đẹp ấy.

Điều này giúp xua bớt đi bóng đen của tham nhũng và sự tha hoá của quyền lực đang trĩu nặng lên đời sống tinh thần của xã hội và cũng gợi niềm tin rằng có thể chống được tham nhũng bằng cách làm sống lại tư tưởng Hồ Chí Minh, nghiêm cẩn thực hiện những chỉ dẫn của Người. Tham nhũng, hệ luỵ trực tiếp của sự tha hoá về quyền lực, đang đục khoét cơ thể của một đất nước, trong đó phần đa  nhân dân - tác giả của Cách mạng Tháng 8, của các cuộc kháng chiến chống xâm lược, giành lại độc lập, tác giả của sự nghiệp Đổi mới- đang còn quá lam lũ, nghèo nàn và cơ cực.

Thực trạng phũ phàng này càng làm nổi bật sự tiên tri của Hồ Chí Minh: nghiêm khắc cảnh báo ngay từ ngày đầu cách mạng thành công, lúc mà chính quyền cách mạng còn trong trứng nước: "các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân... Dân chủ thì Chính phủ phải là đày tớ. Làm việc ngày nay không phải để thăng quan phát tài. Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ(3).

Khi đứng ở vị thế người lãnh tụ của Đảng và là nguyên thủ quốc gia, Người vẫn trước sau như một không chút vướng bận đến những ràng buộc có thể làm cho con người ta đánh mất mình. Từ ngôi nhà sàn trong khuôn viên của Phủ Chủ tịch, chúng ta đã thực sự thấy được hình bóng của một tính cách “không dính líu gì với vòng danh lợi” chứ không đợi phải là nơi “có non xanh, nước biếc để câu cá , trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu”!

  • Tương Lai

Đón đọc tiếp Kỳ II: Hãy tin dân mình như Bác đã tin

Chú thích:
1. Hồ Chí Minh Toàn tập. Tập 10. NXBCTQG. 1995. tr.128
2. Vũ Kỳ “Bác Hồ viết Di chúc”.NXBSự thật.Hà Nội 1989, tr.6
3. Hồ Chí Minh Toàn tập. Tập 5. NXBCTQG. 1995. tr 60

Ý kiến của bạn:

 

,
,