,
221
3662
Nhận định
nhandinh
/nhandinh/
824346
Kỳ 3: Nỗi lo dân bị tiếm quyền
1
Article
null
,
Lê Duẩn - chuyện cũ nhớ lại và suy ngẫm

Kỳ 3: Nỗi lo dân bị tiếm quyền

Cập nhật lúc 08:48, Thứ Hai, 31/07/2006 (GMT+7)
,

(VietNamNet) - Chưa có những công trình nghiên cứu nghiêm túc về tư tưởng Lê Duẩn, về những di sản lý luận của ông, nhằm tìm ra trong đó những“viên ngọc” bên những “hạt sạn”, trong những cố gắng đóng góp của Lê Duẩn về tư duy lý luận, thay vì tiếp tục những “tụng ca” vô lối. 

...Tôi cứ nói liều suy nghĩ của mình, cũng là để gỡ cái thế bí, vì tôi không nhớ được thật chính xác ý tưởng của Ph.Angghen mà hình như người hỏi tôi lại muốn nghe điều ấy. Có lẽ vì chính ông muốn kiểm nghiệm lại dòng suy tưởng của mình.
 
Nóng vội?

Cố TBT Lê Duẩn.

Ông cười, rồi cũng không quan tâm đến việc tôi có nhớ hay không nhớ điều ông hỏi. Vì với ông, ông không câu nệ về câu chữ, lại càng không nô lệ vào những trích dẫn, ông chỉ nói: "Lâu, lâu lắm, nhưng nếu ngại lâu mà bây giờ không bắt đầu thì không bao giờ đến được cái đích mà chúng ta mong muốn.

Anh còn trẻ không hiểu được rằng những ngày ngồi trong nhà tù Côn Đảo, chúng tôi đã nghĩ về cái đích ấy. Chính vì thế mà chúng tôi đủ sức mạnh và nghị lực chiến thắng cái chết,chiến thắng kẻ thù. Chính tôi cũng không nghĩ là tôi còn sống để thấy được đất nước mình giải phóng, được độc lập thống nhất.

Nhưng dù mình không còn sống thì sự nghiệp của mình sẽ vẫn được thực hiện. Mà bây giờ thế là ta đã có cả, nhưng lúc này có cả rồi thì lại lắm hư hỏng. Nhưng mà rồi chúng ta phải đấu tranh để cho cái xã hội tốt đẹp đó được thực hiên. Từng bước thôi. Đừng nóng vội".

Tuy ông nói vậy, nhưng tôi thầm nghĩ, chính ông đang nóng vội, song không dám nói điều ấy ra. Nhưng rồi tôi cũng hiểu được lý do sự nóng vội đó khi biết ra rằng, lần nói chuyện hôm ấy là lần cuối cùng tôi được làm việc với ông.

Khi nghe tin ông mất, tôi lẩn thẩn ngồi lật lại trang sách của cuốn “Sự phát triển của chủ nghĩa xã hội từ không tưởng đến khoa học” mà khi ông hỏi tôi không nhớ ra. Tôi thẫn thờ trước ý tưởng: “con người, cuối cùng làm chủ tồn tại xã hội của chính mình thì cũng do đó mà làm chủ tự nhiên, làm chủ cả bản thân mình, trở thành người tự do” 8…

Cả C.Mác, Ph.Angghen cũng như V.I Lênin, mặc dù đã có nhiều trang viết, nhiều tác phẩm về nhà nước cách mạng, về nhà nước vô sản, nhà nước công nông, nhưng cho đến nay, lý luận về nhà nước mà học thuyết của C.Mác và Ph.Ăngghen với sự bổ sung của V.I Lênin muốn có, thì vẫn đang là một câu hỏi nhiều hơn là một câu trả lời…

Ngay như tác phẩm “Nhà nước và Cách mạng” của V.I Lênin đã một thời làm sách gối đầu giường của nhiều nhà hoạt động cách mạng giành chính quyền và xây dựng chính quyền. Thế nhưng, với sự kiểm nghiệm của thời gian, người ta thấy rằng, trong đó những tư tưởng lý luận về nhà nước khi đi vào thực tế, đã gặp quá nhiều trở ngại đến mức trở thành ảo tưởng không thể thực hiện được.

Và, cuối cùng để lại, lại là nỗi day dứt, lo lắng của V.I Lênin ngày càng tăng về tính chất quan liêu và sự tha hoá của bộ máy nhà nước. Cho đến khi V.I Lênin mất vẫn chưa có lý luận về nhà nước, về cơ cấu và cơ chế hoạt động của nhà nước kiểu mới. Hệ luỵ của điều này thì quá lớn.
 
Trăn trở một đời: làm thế nào để dân giao quyền mà không mất quyền
 
Phải chăng đây chính là điều mà Lê Duẩn trăn trở, tìm tòi. Là người gánh vác trọng trách Tổng bí thư của Đảng lâu nhất trong lịch sử Đảng, Lê Duẩn là người hết sức quan tâm tạo điều kiện để Nhà nước thực thi chức trách quản lý của mình. Ông thường nhắc nhở Đảng lãnh đạo thế nào để Nhà nước quản lý tốt nhằm thực hiện quyền làm chủ của nhân dân.

Cũng chính ông là người đề xướng cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Ý tưởng “làm sao bảo đảm đầy đủ dân chủ trong điều kiện một Đảng lãnh đạo. Vấn đề mà Đại hội VII đặt ra, vốn đã từng là vấn đề mà nhà chính trị, nhà lý luận Lê Duẩn trăn trở, tìm tòi. Bộ óc lớn ấy không ngừng vận động,  luôn luôn bứt phá,mà một trong những tìm tòi suy nghĩ tập trung nhất cũng là vấn đề ấy.

Bởi lẽ, chính trị không gì khác, là sự tham gia vào những công việc của nhà nước, là việc vạch ra hướng đi cho nhà nước đó, là việc xác định những hình thức và nội dung hoạt động của nhà nước như V.I Lênin từng viết. Nói đến chính trị thì trước tiên là nhà nước thuộc về ai, cũng tức là quyền lực nhà nước và tất cả những mối tương tác của quyền lực do ai quyết định. Làm thế nào để “quyền lực là của nhân dân và chỉ ở nhân dân mà thôi”. Làm thế nào để nhân dân giao quyền mà không mất quyền và các thực thể quyền lực được giao quyền mà không tiếm quyền của nhân dân.

Đấy là vấn đề quyết định nhất và cũng là cam go nhất trong việc xây dựng Nhà nước từ trước đến nay. Và đấy cũng là vấn đề lý luận và thực tiễn lớn nhất đặt ra cho nhà lý luận Lê Duẩn. Đó là cội nguồn của sự tìm tòi về một phương thức lãnh đạo, một hình thức nhà nước nhằm thực thi quyền lực của nhân dân, người chủ của xã hội mới. Và chính đó cũng là cội nguồn của sự hình thành trong tư duy Lê Duẩn phạm trù “làm chủ tập thể”. Từ những đường nét phác thảo trong tư duy lý luận đến sự vận dụng vào thực tế, được sự khảo nghiệm của cuộc sống là cả một hành trình hết sức phức tạp.

Phạm trù làm chủ tập thể hình thành trong suy tư về vai trò lãnh đạo của Đảng và chức năng quản lý của Nhà nước nhằm đảm bảo cho nhân dân thực hiện được quyền làm chủ đất nước, làm chủ xã hội của mình. Phải biết tước bỏ những cách hiểu dung tục, thô thiển để nhìn vào chiều sâu triết lý về sự vận động của lịch sử hướng tới một hình thái xã hội mới ra đời ngay trong lòng xã hội hiện tồn. Đó là khi bằng cách mạng giành lại độc lập cho dân tộc, tự do và hạnh phúc cho nhân dân trong một nhà nước dân chủ, thì không thể áp dụng hình thức “nhà nước chuyên chính vô sản” được nữa.

Tôi hiểu hạt nhân của triết lý làm chủ tập thể chính là sự khẳng định “quyền hành và lực lượng đều nơi dân”, và đấy cũng là cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh. Mà cũng chính Hồ Chí Minh là người đầu tiên nói đến quyền làm chủ của nhân dân. Trong bài “Đạo đức công dân” đăng trên báo “Nhân Dân” ngày 15.1.1955, Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ, nghĩa là nước nhà do nhân dân làm chủ” 9.

Nếu phạm trù làm chủ tập thể được nhận thức một cách thô thiển và giản đơn, nhất là khi cố làm cho một phạm trù triết học được diễn đạt một cách “dễ hiểu” dẫn đến việc vận dụng một cách máy móc thì không sao tránh khỏi những những lệch lạc tai hại. Đặc biệt khi sự vận dụng và tụng ca một chiều, đẩy tới sự cực đoan do sự chi phối của chủ nghĩa cơ hội với những động cơ không trong sáng, sẽ làm trầm trọng thêm những lệch lạc không đáng có. Đương nhiên, tác giả của quan điểm đó, với cương vị của một người lãnh đạo cao nhất chứ không phải chỉ là một nhà lý luận luôn trăn trở với những suy tư triết học, không thể không chịu trách nhiệm về sự vận dụng lệch lạc đó…  
 
“Con đường khổ ải” của một nhà lý luận lớn
 
Phải chăng một tư tưởng luôn luôn là là sát mặt đất với những toan tính cụ thể hằng ngày, không chịu và không dám cất cánh mạo hiểm bay lên không trung có phần choáng ngợp và khó lường những hiểm nguy có thể xảy ra sẽ không bao giờ bị nhuốm màu lãng mạn, không tưởng. Tôi nghiệm ra như thế và cũng có thể là tôi sai, nhưng xin cứ được mạnh dạn nêu lên, cũng là một cách thực hiện cái quyền được suy nghĩ.

Và tôi suy nghĩ về một con người có cái đầu luôn luôn tìm tòi, suy ngẫm. Con người ấy luôn bắt bộ óc mình phải làm việc, dòng tư duy không hề ngưng nghỉ đó luôn được khởi động bởi sức mạnh của một “tình thương và lẽ phải” mà ông theo đuổi. Con người ấy đúng là một nhà lý luận theo cách hiểu của tôi, một người làm công tác nghiên cứu đã có may mắn trong một thời gian rất ngắn được tiếp xúc với ông. Do đặc thù của công tác nghiên cứu, có chút ít thể nghiệm trong tìm tòi suy ngẫm, tôi hiểu được “con đường khổ ải” của một nhà lý luận có tư duy độc lập và sáng tạo. Phải chăng Lê Duẩn là người đã từng trải qua “con đường khổ ải” đó?

Ông phàn nàn, ông phê phán những tư tưởng hạn hẹp chỉ bó gọn tầm mắt và mối quan hệ trong COMECOM, ông nghĩ đến việc phải học hỏi thêm những thành tựu kinh tế và mở rộng quan hệ với Châu Âu, với Nhật, với Mỹ. Ông cho rằng đó không chỉ là chuyện chính sách và chiến thuật, mà phải ở tầm đường lối cơ bản. Ông hay nhắc đi, nhắc lại: “Nói gì thì nói, làm gì thì làm, cuối cùng là nhịp độ và trình độ phát triển kinh tế để nâng cao các mặt đời sống nhân dân. Không làm được như vậy thì nói làm chủ tập thể chỉ là nói suông, thậm chí là nói dối”. Vì thế, ông cũng đã từng nói đến kinh tế hộ, kinh tế hợp tác và kinh tế tư nhân chứ không phải ông chỉ nhấn mạnh quốc doanh là ưu việt nhất một cách tràn lan mọi ngành, mọi lúc.

 Trong tâm tưởng của ông, ông vẫn dành cảm tình cho vấn đề “khoán hộ” của đồng chí Kim Ngọc ở Vĩnh Phú, mặc dầu lúc ấy đã có kết luận chính thức về vấn đề này, song ông vẫn động viên cần tiếp tục tìm tòi cái mới trong quản lý sản xuất nông nghiệp. Đôi lần ông phê phán những khuyết tật cơ bản của kế hoạch hóa tập trung quan liêu, và trong việc tìm cơ chế mới, ông thấy vai trò của giá, của tài chính tiền tệ, điều mà bây giờ đây chúng ta hiểu rõ đó là cơ chế, là công cụ và đòn bẩy chính của kinh tế thị trường. Từ rất sớm, bộ óc lớn ấy đã từng bung phá và lóe sáng những suy tư về đổi mới mà sau này càng thấy rõ ý nghĩa khai phá của những suy tư Lê Duẩn.

Đáng tiếc là, những tư tưởng lóe sáng trong tư duy của nhà lý luận ấy đã bị chìm đi trong vô vàn những bức xúc hàng ngày của thực trạng kinh tế đang trong cái thế giằng co giữa cái cũ và cái mới. Ông không thể không gánh chịu trách nhiệm về những hậu quả nặng nề của sự vận dụng những công thức giáo điều trong mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội theo kiểu Stalin hoặc của tư tưởng giáo điều “tả” khuynh khác, mặc dầu ông đã cố gắng để vượt ra khỏi những áp đặt. Trong một chừng mức nào đó, ông cũng không thoát ra khỏi căn bệnh cố hữu mà V.I Lênin đã từng cảnh báo, bệnh “kiêu ngạo cộng sản”.

Do quá say sưa vì thắng lợi của sự nghiệp “Chống Mỹ cứu nước”, nhiều quyết định của ông đã rơi vào duy ý chí, lấy lòng mong muốn thay cho thực tế. Mười năm xây dựng đất nước trong hoà bình sau 1975 với những sai lầm đáng tiếc của mô hình kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, cái mô hình mà ông từng bước cố tháo gỡ vì đã phần nào nhận ra được sự bất cập của nó, nhưng vẫn không thoát ra khỏi được, cái mô hình đã gây nên những tổn thất to lớn về vật chất cũng như về tinh thần, làm chậm sự phát triển của đất nước. Hoặc cũng có thể nói, theo suy nghĩ của riêng tôi, tuy thấy được những nguy hại của chủ nghĩa giáo điều, “tả” khuynh, nhưng hình như vẫn chưa thấy được thật rõ. Nói cách khác, mức độ thấy cũng chưa tới được cái ngưỡng để thắng hẳn cái cũ, tạo ra cái mới. Đó chính là “con đường khổ ải" mà tôi nói ở trên. Là người luôn luôn suy nghĩ, tìm tòi và bứt phá với một tư duy độc lập và sáng tạo, song Lê Duẩn không vượt qua nổi những điều kiện lịch sử cụ thể.
 
Bi kịch rất “người”
 
Phải chăng, bi kịch của những nhân vật lịch sử lại cũng thường rơi vào những điều kiện ràng buộc và áp đặt, khiến cho tư tưởng tuy muốn thoát ra khỏi những ràng buộc và áp đặt đó mà vẫn không được, vì còn có nhiều nguyên nhân phức tạp khác. Thậm chí có lúc gần như ra khỏi được rồi nhưng lại phải quay vào, muốn là “ta” mà vẫn cứ vướng vào “người”, muốn “sáng tạo” nhưng rồi không thực thi được sự sáng tạo đó để rơi vào những bất cập.

Trong những bất cập ấy, có trách nhiệm không thể thoái thác của một số người mà ông sở cậy, tin tưởng trao đổi những ý tưởng loé sáng trong ông và yêu cầu họ cùng ông thể hiện ra, làm sáng tỏ, tranh luận để bổ sung hoặc bác bỏ, nhằm làm cho những loé sáng trong bộ óc luôn luôn suy nghĩ, luôn luôn tìm tòi đó có được hình hài nghiêm chỉnh và bài bản. Tôi nhớ như in câu ông hay nói : “tôi nghĩ như vậy, còn lại là các anh phải viết ra, phải làm cho hoàn chỉnh”! Nhưng rồi ai làm? Có ai làm không? Liệu những sự “vùng vẫy, bứt phá”của Lê Duẩn có góp phần cho những người đi sau tiến được một số bước xa hơn không?

Quả thật, theo sự hiểu biết còn hạn hẹp của tôi, tôi nghĩ rằng giới lý luận ở ta chưa góp phần đẩy những bứt phá của bộ óc năng động và sáng tạo đó đi đến những quyết định cụ thể được vận dụng vào thực tiễn. Cũng chưa có được những công trình nghiên cứu nghiêm túc về tư tưởng Lê Duẩn, về những di sản lý luận của ông, nhằm tìm ra trong đó những“viên ngọc” bên những “hạt sạn”, “lọc cái giả, lấy cái thật” của những cố gắng đóng góp của Lê Duẩn về tư duy lý luận, thay vì tiếp tục những “tụng ca” vô lối, hoặc những sự phủ định thiển cận và xu thời. Có một thực tế đáng buồn là người “ăn theo, nói leo” thì “hơi bị nhiều”, người “lựa gió xoay chiều” thì lại không ít, còn người nghiêm túc đeo đuổi một sự nghiệp lý luận nghiêm chỉnh và dũng cảm trong tư duy, mạnh dạn trong tranh luận thì còn quá hiếm.

Khi kết thúc bài viết ngắn này, cảm nhận đậm nét trong tôi về ông vẫn là ấn tượng về một nhà tư tưởng, một nhà lý luận, mặc dầu tôi hiểu rõ rằng, con người ấy, bộ óc ấy có sự đóng góp quyết định vào việc hoàn thành trọn vẹn sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Bao nhiêu năm đã trôi qua, “câu chuyện bên cầu thang” dạo nào như sống dậy trong tôi, khơi động một kỷ niệm thật đẹp về một con người mà tôi kính trọng. Đột nhiên, trong óc tôi thoáng hiện lại phút trầm ngâm để mình tự nói với mình của Phạm Văn Đồng mà tôi đã gợi lên ở trên. Trái tim lớn ấy cũng đã ngừng đập sau khi bộ óc lớn này đã ngừng tư duy.

Đến bao giờ thì lịch sử lại sản sinh ra những con người như vậy? Bao giờ?

Tôi không khỏi bùi ngùi về một nỗi buồn mông lung. Trước trang giấy câm lặng mà lòng ngổn ngang trăm mối. Một nỗi buồn rất khó nói ra.

  • Tương Lai

------------------

8.  C.Mác & Ph.Angghen Toàn Tập   Tập 19.NXBCTQG. Hanoi. 1995 tr. 330,
9. Hồ chí Minh Toàn tập. Tập 7. NXBCTQG. Hà nội.1996, tr.452  

,
,