221
1661
Phóng sự điều tra
psks
/psks/
1176162
Kỳ 8: Khi bộ đội “bắt ma” giỏi hơn thầy cúng
1
Article
null
Biên phòng ký sự:
Kỳ 8: Khi bộ đội “bắt ma” giỏi hơn thầy cúng
,

 - Cuối tháng 2/2009, trưởng bản Rào Tre Hồ Kính là người đọc báo cáo tại Hà Nội bằng tiếng Kinh mạch lạc nhất. 8 năm trước, trưởng bản Hồ Kính cũng là người mù chữ. Câu chuyện diễn ra chỉ 8 năm sau khi bộ đội biên phòng vào Rào Tre.

 

Đuổi con “ma rừng” khỏi bản

 

Hoàng hôn dần buông sau đỉnh núi Cà Đay. Thầy mo Hồ Púc ngồi bó gối bên bếp lửa đang chuẩn bị cho bữa cơm chiều. Giờ ông không còn phải bận rộn với những lễ tế thần linh, đuổi con ma rừng, ma suối, ma nhà nữa. Cây đàn đá cùng với bát nhang – những dụng cụ “hành nghề” ngày xưa giờ chỉ nằm im lìm ở một góc nhỏ trong nhà. Thi thoảng, có người lạ đến chơi, ông lại đưa ra đánh như hồi ức về một thời quá vãng.

Thầy mo Hồ Púc bên bếp nấu bữa ăn chiều. Thầy Púc nói không có bộ đội vào thì chắc dân đã chết đói hết trước khi chết vì bệnh. Ảnh: GVT.

Trước, người Chứt hễ ốm đau đều nhờ thầy mo Hồ Púc làm lễ cúng. Mà không riêng gì nơi đây, ngay cả bà con ở tận Quảng Bình cũng băng rừng, lội suối tìm đến thầy để nhờ ông đuổi con “ma” trong nhà. Trẻ nhỏ bị lên sởi, người dân cho là con ma rừng đã nhập vào người; người già bị bệnh lao, nằm ho sặc sụa mấy ngày liền cũng nhờ thầy đến cúng.

Với người Chứt ở Rào Tre, ốm đau không phải là do bệnh tật mà là do con “ma rừng” đã nhập vào người. Muốn cứu sống phải nhờ thầy mo làm lễ, mổ trâu, mổ gà để cúng bái thần linh. Khi nào thầy mo “bắt” được con ma trong người ra thì người bệnh mới khỏe. Nếu may mắn cứu sống, người nhà cảm tạ thầy mo một ít tiền, khoảng 10-20 ngàn đồng. Còn không cứu sống, người dân buộc phải tin lời thầy mo, rằng: con ma cho sống là sống, ma bắt chết là phải chết, không phải do bệnh tật gì hết.

 

Cả một thời gian dài, tộc người Chứt nơi đây sống với những ý nghĩ mông muội như vậy.

Hồ Pắc đang chỉ cho phóng viên xem vị trí căn lều, nơi 8 năm trước Pắc suýt mất cả vợ lẫn con chỉ vì tin có con ma đang hành không cho vợ sinh đúng ngày. Ảnh: GVT.

Thế nhưng, chính các chiến sỹ biên phòng cắm bản nơi đây đã làm thay đổi nhận thức một thế hệ người Chứt. Chuyện bắt đầu từ một đêm mưa như trút tháng 8/2001, khi những người lính cắm bản vừa đến đây tròn 2 tháng.

Sáng hôm đó, chị Hồ Thị Linh trở dạ. Theo phong tục, phụ nữ sinh con thường “rất bẩn”. Để tránh bị thần linh và ma quỷ quở trách, đàn bà lúc sắp sinh con phải ra ở riêng.

 

Chị Linh trở dạ mấy tiếng đồng hồ liền nhưng mãi đứa bé vẫn không chịu “chui ra”. Hoảng, chồng chị là Hồ Văn Đình Pắc phải nhờ anh trai là thầy mo Hồ Púc đến để làm lễ. Cầm vội bát nhang, đính thêm lên mặt ít hoa dâm bụt và cây đàn đá, ông Púc thủng thẳng đi sang nhà em trai để bắt con “ma rừng”.

 

“Hành trình” bắt con ma trong người chị Linh bắt đầu từ sáng tới chiều mà đứa bé trong bụng chị Linh vẫn chưa chịu chui ra. Lúc này, mồ hôi trên trán thầy mo và chồng chị Linh vã ra như tắm. Trong chái nhà tranh lợp tạm, chị Linh giãy giụa đau đớn.

 

Vừa lúc đó, quân y Lê Văn Sơn đi tuần qua. Nghe tiếng gào khóc của chị Linh, anh vội vàng lao vào. Trong ánh đèn pin tù mù, đã thấy chân đứa bé thò ra từ phần kín của sản phụ.

 

Xác định đây là một ca đẻ ngược phức tạp, phải kịp thời đưa đi mổ để cứu sống cả mẹ lẫn con nên toàn bộ anh em trong tổ công tác phải tập trung tới nhà Pắc để cứu người.

 

Nhưng làm sao để thuyết phục được gia đình họ khi mà tư tưởng “không phải là bệnh tật gì hết mà do chưa bắt được con ma” vẫn cố hữu trong người họ. Một mặt, các chiến sỹ phải ra sức thuyết phục gia đình, mặt khác phải thuyết phục thầy mo. Ông Púc lúc đầu nghe xong, giãy đành đạch: “Con ma đang ở trong người nó. Con ma nó cho sống thì sống, không cho sống thì thôi. Để ta bắt con ma ra đã”.

 

Phải mất một lúc thuyết phục, thầy mo Hồ Púc và gia đình mới đồng ý để cho các chiến sỹ biên phòng đưa chị Linh ra bệnh viện huyện.

Cây đàn đá của thầy mo Hồ Púc dùng vào việc "bắt ma" năm xưa. Thầy Púc nói "không có chú Thiên tới thì con không hát cho nghe mô", trước khi biểu diễn lại bài cúng bắt ma. Nay, cô bé Lài (ảnh bé gái mặc áo vàng), đứa bé đẻ ngược 8 năm về trước đã theo học lớp 1. Trẻ con lớn lên ở Rào Tre bây giờ đã có bát cơm ăn hằng ngày, đã dạn dĩ hơn khi thấy khách lạ ghé thăm bản. Ảnh: GVT.

Đại úy Thiên giờ vẫn còn nhớ như in cái đêm đó: “Lúc đó trời đã tối, mưa xối xả nên nước sông thượng nguồn Ngàn Sâu lên cao. Nhưng, tình thế quá cấp bách, anh em chiến sỹ buộc phải dùng cáng, lội qua dòng nuớc chảy xiết để đưa chị Linh ra bệnh viện”.

4 giờ sáng, trong phòng hộ sinh bệnh viện huyện Huơng Khê, một bé gái cất tiếng khóc chào đời trong niềm vui tột cùng của các chiến sỹ biên phòng và sự ngỡ ngàng của thầy mo Hồ Púc. Cháu được đặt tên là Hồ Thị Phương Lài.

 

Sau đận đó, niềm tin của người Chứt đối với các chiến sỹ biên phòng được nhân lên gấp bội. Họ dần hiểu rằng: không có con ma rừng, ma suối nào cả. Cũng sau lần đó, thầy mo Hồ Púc mới té ngửa ra rằng: hóa ra, các chiến sỹ biên phòng còn bắt con “ma rừng” giỏi hơn ông. Căn phòng khám chữa bệnh “quân dân y kết hợp” của tổ công tác cắm bản bắt đầu có bước chân của người Chứt mỗi khi đau ốm.

 

Bên chiếc phản cũ, Hồ Púc lấy cây đàn đá và bát hương – công cụ dùng để đuổi con ma trong người như ngày xưa, rồi ông ê a hát một thứ tiếng âm u cho khách lạ nghe theo đề nghị của đại úy Thiên. Hỏi ra mới biết, đó là bài mà ông thường dùng để xua đuổi con ma trong người bệnh ngày xưa.

 

Nhìn dáng vẻ khắc khổ của ông, Nguyễn Văn Thiên thở dài: “Rõ khổ, có 2 đời vợ nhưng giờ ông vẫn ở một mình. 2 người vợ của ông đều bị bệnh và qua đời đã lâu".

 

Hỏi vì sao ngày xưa ông không “bắt” được “con ma” trong người vợ, ông cười buồn: “Con bắt mãi mà con ma không chịu ra. À, cũng tại lúc đó chưa có các chiến sỹ biên phòng nên giờ con mới phải ở một mình. Mà, nó không chết bệnh thì cũng chết đói thôi à".

Thầy mo Hồ Púc giờ đã quen với việc ruộng vườn, cấy hái, dù ông Púc nói rằng thi thoảng vẫn đi cúng, nhưng chỉ là vào các dịp lễ hội của người Chứt mà thôi. Ảnh: Hoàng Sang.

Rồi ông kể về những chuyện của ngày xưa, chuyện của hôm qua và chuyện hôm nay. Trong câu chuyện rời rạc, chắp vá của mình, ông vẫn không quên nhắc tới các chiến sỹ biên phòng như một vị cứu tinh cho tộc người Chứt.

Giọng ông đứt quãng: “Trước, ban ngày thì đi đào củ mài, củ sắn, đêm đến vào rừng tìm con thú, bẫy con chuột. Cuộc sống ngày nào biết ngày đó, đói triền miên. Từ khi có các thầy (chỉ các chiến sỹ biên phòng - NV) là có óc gạo, óc muối, óc mắm (hạt muối, hạt mắm - NV), biết nấu chín thức ăn, nước uống để dùng”.

 

Thầy mo Hồ Púc, cũng như nhiều người dân trong bản, đều xưng “con”, gọi “thầy” khi gặp đại úy Nguyễn Văn Thiên dẫn khách đi thăm bản. Hỏi ra, anh là thầy giáo dạy chữ cho tất cả mọi người ở đó.

 

Hương ước giữ rừng

 

Tháng 2/2009, tại Hà Nội, trong hội nghị báo cáo điển hình tiên tiến các già làng trưởng bản trong cả nước tại Bộ Quốc phòng, trưởng bản Rào Tre Hồ Kính là người đọc báo cáo rành rọt nhất.

 

8 phút báo cáo, nội dung chỉ dài 2 trang giấy, ít ai biết, ông Hồ Kính đã phải tập mất cả tháng trời. Nguyên bản lúc đầu để đánh vần, ông ê a mất 50 phút.

 

8 năm trước, trưởng bản Hồ Kính cũng là người mù chữ.

Phân chia thóc giống cho dân bản Rào Tre trước khi vào vụ mùa mới. Ảnh tư liệu BĐBP Hà Tĩnh cung cấp.

Cũng trong tháng 2/2009, tại văn phòng Tổng Bí thư ở Hà Nội, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh là người đầu tiên cất lời hỏi Hồ Kính: “Thế người Chứt ở Rào Tre bây giờ sống thế nào rồi?”, khi đón đoàn già làng, trưởng bản cả nước tới chào.

Ngày 19/4/2004, trên chặng đường lổm ngổm bùn đất nhão nhoét dẫn vào Rào Tre, một đoàn xe cắm cờ, hú còi chạy vào tới con suối cuối cùng chắn đường lên bản thì buộc phải dừng lại. Cơn mưa đêm trước khiến nước lũ lên cao, chảy xiết. Lực lượng bảo vệ sau khi dò đường đã quyết định quay xe trở lại.

 

Tuy nhiên, một người đàn ông trắng trẻo, bệ vệ, có nụ cười rất hiền vẫn kiên quyết xắn quần tìm cách qua suối. Vậy rồi giữa dòng nước xiết, với một chiếc xuồng con, một nhóm cán bộ đã tìm đến được Rào Tre.

 

Người Chứt ở Rào Tre ngỡ ngàng, không thể tưởng tượng nổi người đàn ông cao lớn xắn quần vượt suối, lội bùn đến thăm vào ngày mưa lũ đó là một cán bộ cao cấp nhất của Trung ương: Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nông Đức Mạnh.

Tháng 2/2009, gặp lại trưởng bản Hồ Kính ở Hà Nội, tại Văn phòng Tổng Bí thư, câu đầu tiên mà Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh hỏi là: "Ông Hồ Kính, đời sống bây giờ của đồng bào Chứt ở Rào Tre như thế nào?". Ảnh tư liệu do đại uý Nguyễn Văn Thiên - BĐBP Hà Tĩnh cung cấp.

Vào tận nơi, nhìn tận mắt cái sự khổ của dân, Tổng Bí thư quyết định tặng cho người dân Rào Tre một con đường vào đến tận bản. Con đường đó được người Chứt ở Rào Tre mặc nhiên đặt tên là “đường ông Nông Đức Mạnh”. Quà của người Chứt tặng lại Tổng Bí thư là một… buồng chuối to do trưởng bản Hồ Kính tự tay trồng.

Chuyến thăm đó là một mốc đáng nhớ, sau nhiều năm bộ đội biên phòng gồng sức đưa dân bản Rào Tre tiếp cận với đời sống văn minh.

 

…Sau sự kiện “bộ đội thắng thầy mo” trong việc bắt ma, thì người dân bản đã dễ gần, dễ nói hơn. Người dân Chứt khi đã tin cái tài của bộ đội thì cũng cởi mở hơn. Trái với trước đó, hỏi gì cũng không mở lời; cán bộ làm gì cũng mặc kệ.

 

Xóa bỏ trở ngại tâm linh, thì tới cái ăn, rồi cái mặc, nước dùng sinh hoạt. Có thể chưa có vùng đất, bản làng nào có 19 điều “hương ước” đọc thấy giản dị như ở Rào Tre:

 

Mọi người ra khỏi bản 2 ngày trở lên phải báo với trưởng bản hoặc cán bộ, về cũng phải báo, vi phạm sẽ bị phạt 1-10 ngày công lao động. Do uống rượu bỏ bê sản xuất, gây mất trật tự nên nay tạm thời cấm mọi người mua, uống rượu trong bản. Hoa màu là “mồ hôi, nước mắt” của dân nên mọi người phải có trách nhiệm bảo vệ; cấm tháo nước ruộng người khác xuống ruộng mình khi chưa được phép; cấm thả trâu bò, lợn gà vào ruộng người khác.

 

Mọi thành viên phải tham gia lao động theo hướng dẫn của bộ đội biên phòng; các sản phẩm làm ra phải trích một phần giống cho vụ sau, cấm mang đi đổi, bán để chi tiêu vào tiệc rượu. Trâu bò không được dùng vào việc kéo gỗ thuê, cho người ngoài bản mượn. Ruộng đất không được bán, đổi chác cho người Kinh, chỉ đổi cho người Chứt sau khi xin ý kiến cán bộ. Dụng cụ lao động dùng xong phải lau chùi sạch sẽ, tập trung lại để cán bộ quản lý.

 

Phải ăn uống hợp vệ sinh “ăn chín, uống chín”. Người lớn lẫn trẻ em phải tắm rửa, giặt giũ thường xuyên. Vào thời vụ sản xuất, sáng phải dậy 4-5h, buổi tối không thức quá 23h. Trẻ em từ 5 tuổi trở lên phải đi học. Người lớn 15 tuổi trở lên không biết chữ phải đi học. Bản họp không được vắng mặt không lý do.

 

Vật phẩm, hàng hóa khi bộ đội biên phòng chưa đồng ý thì không được mang ra khỏi bản, cố tình trốn tránh mang ra thì là kẻ gian, xử tội lừa đảo, trộm cắp. Muốn mua bán, trao đổi hàng hóa thì phải được sự đồng ý của bộ đội biên phòng. Các khoản người Chứt đang nợ người Kinh thì tạm thời gác lại, ai cố tình xiết nợ thì xử tội “trấn lột”. Trâu bò là tài sản chung, giao cho người dân quản, nhưng muốn sử dụng phải được bộ đội biên phòng phân chia sức kéo cho đồng đều…”.

8 năm sau, Hồ Pắc cười rất tươi khoe với cán bộ biên phòng tới thăm rằng đến nay Pắc đã có cháu ngoại. Hồ Pắc kể rằng cái đêm tháng 8/2001 đó nếu không có bộ đội biên phòng thì Pắc giờ đã mất cả vợ lẫn con. Ảnh: GVT.

Đặc biệt, trong 19 điều hương ước đó, có những điều viết rất giản dị: “Người Kinh với người Chứt là anh em trong một nhà như "cây một cội, hoa một cành”. Cây có cây tốt – cây xấu, hoa có hoa thơm - hoa không thơm, trái có trái ngọt – trái không ngọt, nhưng tất cả đều hút nước trong lòng đất và nhả khí ôxy cho con người hít thở.

Người Chứt tuy chưa khôn bằng người Kinh nhưng họ cần cù, chịu khó, hiền lành. Họ cũng là con người, chúng ta phải thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ nhau, không được phân biệt chia rẽ hoặc lợi dụng sự ít hiểu biết của họ để lừa dối, bóc lột sức lao động của họ, đầu độc họ và con em họ bằng các chất kích thích như rượu, thuốc lá và các hàng quốc cấm”.

 

Hương ước cũng “dặn” người Chứt: “Cấm phát rừng để làm rẫy mới. Nghiêm cấm chặt, kéo gỗ, củi trong khu vực “khe ông Lâm”. Các công trình trong bản đều là tài sản xã hội chủ nghĩa, không được đập phá, làm hư hỏng các công trình công cộng như đường dây điện, mương máng, cầu cống, bể nước, bàn ghế, nhà ở… Trâu bò, nhà cửa, dụng cụ sản xuất là tài sản của Nhà nước chỉ dành cho người Chứt sử dụng phục vụ cuộc sống. Ai cũng có quyền lợi và trách nhiệm bảo vệ”.

 

Bản hương ước đầu tiên quy định các điều ràng buộc trong quản lý, ứng xử giữa các gia đình, cá nhân trong bản lần đầu tiên trong lịch sử hình thành bản Rào Tre được trưởng bản Hồ Kính ký, đánh máy hẳn hoi, đề ngày 12/7/2001.

 

Có hương ước rồi, ai không tuân theo thì đuổi ra khỏi bản, ai vi phạm thì xử theo pháp luật. Nhưng tập tục, hủ tục ăn sâu vào lối sống, đời sống bao đời nay thì thay đổi không thể một sớm một chiều.

 

Một chặng đường dài bộ đội biên phòng nơi đây đã phải cầm tay chỉ việc cho dân tập làm quen.

 

  • Trường Minh – Hoàng Sang 

Kỳ tới: Ngày mới ở Rào Tre

 

8 năm, chỉ là khoảng thời gian định lượng, của một chặng đường chưa dài đưa người Chứt ở Rào Tre trở lại với cuộc sống tự lo cho mình.

 

,
Ý kiến của bạn
Ý kiến bạn đọc
,
,
,
,
/script>