,
221
505
Thư Thăng Long
thuhanoi
/thuhanoi/
1122609
Nhà sử học Dương Trung Quốc: Lẽ phải và lòng người (II)
1
Article
null
,

Nhà sử học Dương Trung Quốc: Lẽ phải và lòng người (II)

Cập nhật lúc 03:15, Thứ Năm, 30/10/2008 (GMT+7)
,

- …Quan trọng hơn lời khen hay chê chính là những đổi thay của đời sống đất nước, trong đó có đời sống sử học và đời sống chính trị. Nó phản ảnh một sự không cưỡng nổi của lẽ phải và lòng người, của những giá trị về sự công bằng, nhưng cũng là sự đổi thay tích cực của một nền chính trị đang đổi mới và hội nhập.

 

Sử học và sử gia

 

Phải thừa nhận rằng một thời giới “sử gia-công chức” thực hiện xuất sắc vai trò minh hoạ và là vũ khí đấu tranh tư tưởng trong một thời kỳ đòi hỏi bởi sự khắc nghiệt của chiến tranh-cách mạng để đạt tới mục tiêu chiến thắng, không chỉ ngoại xâm mà cả những “tàn dư của chế độ cũ”.

 

Đọc “Tạp chí Văn Sử Địa” và tiếp đó là “Nghiên cứu lịch sử”- cơ quan ngôn luận của Viện Sử học Việt Nam, cơ quan “quản lý nhà nước” trên lĩnh vực lịch sử dân tộc sẽ thấy quan điểm lập trường là “thẳng tuột” không nương nhẹ đối với những vấn đề lịch sử, đúng với tinh thần “đưa 4000 năm vào trận đánh”. Điều đó không chỉ diễn ra hồi đánh Pháp rồi Mỹ, mà cả thời “chống bành trướng”.

 

 Đặt vào bối cảnh ấy, những vấn đề của các chúa Nguyễn nhất là Vương triều Nguyễn được đặt ra liên tục vẫn với tinh thần “phản đế, phản phong”, trừ các chiến công giữ nước của các triều đại phong kiến, mà thời các chúa Nguyễn hầu như chỉ diễn ra hình thái nội chiến (Trịnh-Nguyễn, Lê-Mạc, Nguyễn-Tây Sơn), có chăng là sự kiện các chúa Nguyễn đánh bại hạm thuyền Hà Lan ở Đàng Trong nhưng không có mấy ý nghĩa so với một đánh giá chủ đạo là tiêu cực. Còn với nhà Tây Sơn, với chiến công hiển hách dẹp bỏ phân chia Đàng Trong-Đàng Ngoài, đánh Xiêm đuổi Thanh thì đương nhiên được tập trung nghiên cứu đánh giá cao, đến mức có người coi đó là “cách mạng Tây Sơn”.

 

 Nhiều đề tài đã liên tiếp được đưa lên mặt tạp chí để thảo luận nhưng chủ yếu là để khẳng định nhiều hơn, để tranh luận nhằm đánh giá trực tiếp hay gián tiếp triều Nguyễn thông qua các chủ đề như “ai thống nhất quốc gia”, “khởi nghĩa nông dân”... và các cuộc thảo luận về các nhân vật lịch sử như Phan Thanh Giản, Lê Văn Duyệt... cho tới cả Nguyễn Công Trứ... đều trở thành những diễn dàn để công kích nhà Nguyễn một cách triệt để.

 

 Tại cuộc hội thảo vừa rồi, bài tham luận của nhà nghiên cứu Phan Thuận An từ cố đô Huế nhắc lại những đoạn trích trong lời giới hiệu bản dịch sách “Đại Nam thực lục” của Viện Sử học (1961) hay các bộ sách khi đó được coi là chính sử  do Uỷ ban KHXH tổ chức biên soạn (Lịch sử VN tập I, 1971 , tập II, 1985) là sự lên án tuyệt đối với các lời lẽ nặng nề, mạt sát như: “Tối tăm, cực kỳ phản động, hủ lậu, mục nát, mù quáng, cực kỳ ngu xuẩn” v.v...dành cho thời các chúa Nguyễn và triều Nguyễn.

 

 

Điện Thái Hòa - Nguồn ảnh: vi.wikipedia.org

 

Quan điểm ấy có thể thấy được trong nhiều ứng xử xã hội như huỷ hoại các di tích có liên quan, xoá bỏ các hình thức ghi nhận như tên đường phố, trường học, các công trình công cộng tại các đô thị, thậm chí ngay cả với những “ông vua chống Pháp” như Duy Tân cũng bị bãi bỏ. Một thời gian dài quần thể di tích cố đô Huế bị bỏ mặc để trở thành phế tích sau những đổ nát của chiến tranh và lụt lội...

 

 Nhà  nghiên cứu xứ Huế cũng lần ra người đầu tiên trong giới “sử gia-công chức” là GS Trần Quốc Vượng- người sớm nhất đưa ra một đánh giá sáng sủa hơn trên tờ “Sông Hương” (Huế) vào năm 1987 khi ông bày tỏ :”Tôi không thích nhà làm sử cứ theo ý chủ quan của mình, và từ chỗ đứng của thời đại mình mà chửi tràn chửi lấp toàn bộ nhà Nguyễn cho sướng miệng và ra vẻ có lập trường. Có thời nhà Nguyễn chúng ta mới có một Việt Nam hoàn chỉnh như ngày nay”. Điều ông nói diễn ra một năm sau “Đổi mới”(1986) và  sáu năm (1987) trước khi  quần thể di tích cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản văn hoá nhân loại (1993). 

 

Đổi mới nhận thức lịch sử

 

Có thể nói rằng chính cái nguyên lý khởi động công cuộc đổi mới là “Dám nhìn thẳng vào sự thật, nói lên sự thật” đã thúc đẩy và mở ra một điều kiện mới cho nhận thức lịch sử. Kể từ đó đến nay đã hơn hai thập kỷ thời gian gắn với đổi mới. Chính những yêu cầu của cuộc sống và phát triển đã đòi hỏi sự nhận thức quá khứ vượt qua được những quán tính của thời chiến tranh và cũng thoát ra khỏi những quan điểm ấu trĩ về đấu tranh giai cấp, về một chủ nghĩa duy vật lịch sử giáo điều. 

 

 Nhưng liệu có phải như cảm nhận của nhà nghiên cứu Phan Thuận An đứng trước sự đánh giá lại các chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn, là như một “sự đảo lộn về nhận thức” hoặc tìm câu trả lời cho nhà thơ Nguyễn Duy, người đang làm bộ phim về ba ông vua yêu nước rằng: “Không hiểu tại sao và từ lúc nào lại bị biến dạng, bị hạ thấp một cách oan sai về thang bậc giá trị lịch sử và văn hoá của vương triều này”, và vì sao lại phải “khơi dòng lịch sử bị nghẽn” vào thời điểm này?

 

Thực ra những chuyển biến trong nhận thức về các chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn đã khởi động qua cả một quá trình. Ai cũng biết khi vấn đề đấu tranh chứng lý để bảo vệ chủ quyền các quần đảo ngoài biển Đông, không thể không nhắc đến thời các chúa Nguyễn đã tổ chức những hình thức thể hiện quyền quản lý lãnh thổ gắn với những hành động vô cùng dũng cảm của những người lính phụng mệnh các chúa  thực hiện nghĩa vụ của mình. Tấm bản đồ được vẽ thời vua Minh Mạng có dải “Vạn lý trường sa” là những bằng chứng đanh thép  bảo vệ lợi ích quốc gia.

 

Năm 1988, Hội Sử học VN tái phục hồi (được thành lập từ 1966 do cố Viên trưỏng Viên Sử học Trần Huy Liệu sáng lập, nhưng sau khi ông qua đời vào năm 1969 thì hội cũng chỉ còn duy trì một vài hoạt động đối ngoại). Kể từ đó nhiều cuộc hội thảo về đổi mới sử học, trong đó có những hội thảo đổi mới nhận thức về nhà Nguyễn và các chúa Nguyễn đã được tổ chức ở nhiều trung tâm giảng dạy và nghiên cứu, có những đề tài cấp nhà nước và giới sư phạm cũng đã bàn về việc giảng dạy những vấn đề liên quan trong nhà trưòng, trong biên soạn sách giáo khoa...Tiếp đó, cố đô Huế là di sản sớm nhất được công nhận Di sản thế giới. 

 

Cũng trong năm 1988, giới sử học tổ chức kỷ niệm 130 năm thực dân nổ súnng xâm lược (1858) tại TP Đà Nẵng. Khi nghiên cứu kỹ chúng ta thấy triều đình thời Tự Đức hoàn toàn không buông vũ khí, mà đã tổ chức kháng chiến với một năng lực tổ chức và ý chí mạnh mẽ, khiến đạo quân viễn chinh không chiếm được địa đầu này, buộc chúng phải chuyển hướng đánh vào Nam bộ. Những khu mộ Tây Ban Nha và cả một “nghĩa chủng” (nghĩa trang liệt sĩ) của những ngưòi lính triều đình cho đến nay vẫn còn trong thành phố Đà Nẵng là bằng chứng...

 

Việc để mất nước là một trách nhiệm nặng nề và không thể bào chữa đối với triều Nguyễn. Tuy nhiên không thể đơn giản dùng chữ “bán nước” mà phải đi sâu vào những hạn chế lịch sử của dân tộc ta, chứ không chỉ của triều đình nhà Nguyễn đã không ứng xử được như Nhật Bản hay Xiêm (Thái Lan) khi ứng phó với nguy cơ xâm lược của chủ nghĩa tư bản phương Tây.

 

Nhưng số phận của Việt Nam cũng là số phận chung của số đông các quốc gia phương Đông trước họa bành trướng của chủ nghĩa thực dân phương Tây, kể cả nước Trung Hoa khổng lồ vào thời đại đó. Việt Nam không duy tân nổi đất nước có những nguyên nhân căn cốt của xã hội Việt Nam chứ không chỉ do sự tăm tối trong đường lối hay phẩm chất của bộ máy cai trị đất nước đương thời.

 

 Một ông vua Tự Đức, người trực tiếp tổ chức đánh Pháp rồi cũng lại là người chịu trách nhiệm về sai lầm để mất đất, bất lực để mất nước, ngay khi còn sống đã tự vấn về tội lỗi của mình, làm hẳn một tấm bia lớn khắc lời tự hối trên sinh từ của mình (Khiêm Lăng), cũng lại là một nhà thơ lớn với khoảng 4000 bài thơ, trong đó có nhiều bài vịnh lịch sử, tự hào về tổ tiên và tự hổ thẹn vì mình không xứng.

 

Ta nghĩ gì khi đọc thấy trên vách của điện Thái Hoà, nơi trang trọng nhất trong cung đình triều Nguyễn bài thơ khắc trên gỗ với những vần thơ đầy khí phách và niềm tự tôn dân tộc của vị vua khai sáng triều Nguyễn :

 “Văn hiến thiên niên quốc/ Xa thư vạn lý đồ/ Hồng Bàng khai tịch hậu/ Nam phục nhất Đường ngu”. Tạm dịch :“Nước ngàn năm văn hiến / Vạn dặm một sơn hà/ Từ Hồng Bàng mở nước / Thịnh trị nước Nam ta”.

 

 

Dàn nhạc Cung đình Huế - Nguồn ảnh: nhanhac.com.vn

 

Ta nghĩ gì khi biết rằng vua Gia Long đã truất quyền nối ngôi của Hoàng tử Cảnh, người con đã gửi gắm cho giáo sĩ Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine) sang triều đình Versaille cầu viện mà không chịu giữ đạo thờ cúng tổ tiên, để trao ngai vàng cho Minh Mạng, con người đầy năng lực cải cách. Con người này đã hướng tầm nhìn ra biển, không chỉ vẽ hải đảo xa xôi trên bản đồ mà còn chỉ huy việc đóng tàu chạy hơi nước bọc đồng và cho người tham quan các tàu biển của Anh và Mỹ  “học tập hàng hải biển để phòng khi cần”.

 

Ta nghĩ gì khi tiếp xúc bộ địa bạ hàng vạn trang do quan lại triều Nguyễn tổ chức đo đạc và biên vẽ, hầu hết các thửa ruộng trên cả nước để quản lý đất đai, hay tổ chức viêc mở mang kinh doanh mà tiêu biểu như doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ lập ra hai huyện lấn biển Tiền Hải-Kim Sơn hay Thoại Ngọc Hầu đào kênh Vĩnh Tế đến nay càng thấy tài giỏi v.v...

 

Đổi mới tư duy chính trị

 

Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã từng đi thị sát con sông đào này với lòng thán phục quan lại và dân chúng xưa đã để lại một công trình mẫu mực của trị thuỷ kết hợp với quốc phòng và ngoại giao. Có thể nói thêm rằng chính cố TT đã là người động viên mạnh mẽ và thiết thực để tiến tới cuộc hội thảo vừa rồi. Đúng hơn, ông đã là người đồng hành và hỗ trợ cho những nỗ lực của giới sử học tổ chức từng buớc, thúc đẩy quá trình nhận thức lại, bắt đầu từ những việc nhỏ đến lớn.

 

 Tôi không quên, sau cuộc hội thảo về “Thời Gia Long” do Hội Sử học t/p HCM tổ chức bị vài người “phát giác” với các nhà quản lý, khiến có một vài sự phiền phức đối với các nhà tổ chức, thì cuộc hội thảo tiếp theo về Lê Văn Duyệt được tổ chức ngay tại địa phương toạ lạc ngôi Lăng Ông.

 

Lãnh đạo địa phương trong thâm tâm rất ủng hộ việc làm này vì biết nó thuận lòng dân, nhưng đầy e ngại với những nhà quản lý cấp trên của mình nên né tránh xuất hiện. Ông Võ Văn Kiệt  đã đến, ngồi lắng nghe các tham luận rồi phát biểu với những lời đánh giá biện chứng về một chính khách thời Nguyễn đã có công đối với vùng đất và thành Gia Định xưa.

 

Kết thúc hội thảo, ông ra thẳng Lăng thắp nén hương như một lời tạ lỗi. Cho đến cuối đời ông vẫn suy nghĩ về việc con đưòng Lê Văn Duyệt của Sài Gòn xưa đã bị xoá  tên vào lúc ông đang có quyền, để rồi trước khi mất không lâu ông đã nói với những người có trách nhiệm của thành phố rằng cần sớm đặt lại tên của vị Tả quân tài năng nhưng bất hạnh này (vì bị cả vua Minh Mạng và cách mạng xử tệ).

 

Tết vừa rồi Hội Sử học VN cùng những người có tâm đức đã đặt một bức tượng đồng lớn vào Lăng của Ngài với sự đồng thuận của Cục Di sản (Bộ Văn hóa- Thể thao- Du lịch) và chính quyền như một sự kiện có ý nghĩa. Ông đã có mặt với một tinh thần cầu thị và quyết vượt qua những nhận thức hạn chế của quá khứ, đồng hành cùng giới sử học tổ chức các cuộc hội thảo về Trương Vĩnh Ký và Phan Thanh Giản.

 

Sau những cuộc hội thảo này ngôi trường tư thục mang tên Trương Vĩnh Ký đã ra đời, và mới đây bức tượng bán thân Phan Thanh Giản do chính cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt cung tiến đã được đặt ở quê hương ông...

 

Gs Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Sử học VN tại cuộc hội thảo vừa rồi ở Thanh Hoá đã cho biết, chính cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, vào ngay thời điểm đang chỉ đạo việc biên soạn bộ lịch sử do UBKHXH chủ trì đả phá quyết liệt các chúa Nguyễn và triều Nguyễn đã nói ở trên, cũng nhắc nhở những người tham gia biên soạn bộ sử ấy rằng, rồi “đến lúc nào đó” phải đánh giá lại chính những quan điểm của bộ sử này về các chúa Nguyễn và triều Nguyễn (?!) .

 

Có thể có nhiều cách nhìn nhận về vấn đề này, nhưng điều quan trọng hơn lời khen hay chê, chính là những đổi thay của đời sống đất nước, trong đó có đời sống sử học và đời sống chính trị. Nó phản ảnh một sự không cưỡng nổi của lẽ phải, của lòng người, của những giá trị về sự công bằng, nhưng cũng là sự thay đổi tích cực của một nền chính trị đang đổi mới và hội nhập, đang từng bước vượt qua những quán tính của một thời kỳ lịch sử đã qua, gắn với những yêu cầu của “chiến tranh-cách mạng”, khắc phục những ấu trĩ trên bước đường trưởng thành vì lợi ích phát triển của dân tộc.

 

 Vĩ thanh

 

 Tôi muốn kể lại một “kỷ niệm nghề nghiệp” cách đây cũng đã  15 năm khi vào Quảng Bình chủ trì việc tổ chức hội thảo về nhân vật Đào Duy Từ, một người tài năng bị chúa Trịnh bạc đãi nhưng được chúa Nguyễn biệt đãi. Ông chính là tác giả của Luỹ Thày bên sông Nhật Lệ và và Luỹ Trường Dục  chặn đứng quân Trịnh bên dòng sông Gianh, chấm dứt binh lửa giữa hai thế lực, giúp các chúa Nguyễn rảnh rang phía Bắc để mở mang bờ cõi về phương Nam.

 

Mọi việc đã chuẩn bị chu đáo để hôm sau khai mạc hội thảo. Bỗng có tin  vì có người bình luận rằng tại sao lại đề cao con người có tội đã đắp luỹ chia cắt đất nước khiến dân tộc phải mang “mối hận sông Gianh”, nên có thể nhiều vị lãnh đạo quan trọng của địa phương sẽ vắng mặt, cho dù  trước đó đã hồ hởi nhận lời tham dự. Người chủ trì hội thảo của địa phương vô cùng lo lắng.

 

 Tôi trấn an rằng hội thảo khoa học thì cứ tiến hành, hy vọng kết quả sẽ làm sáng tỏ “công-tội” của người xưa. Lan man sang những câu chuyện bên lề, có ai đó hỏi: “Học giả Đào Duy Anh có phải là hậu duệ cụ Đào Duy Từ không nhỉ?”. Tôi nói rằng không rõ, nhưng thường có chung họ, lại cả đệm nữa thì có thể không cùng nơi phát tích (quê) nhưng thường “suy cho cùng” thì rất có thể có chung dòng máu (thân tộc)...Câu chuyện lan man tiếp rồi đụng đến tên tuổi một nhà lãnh đạo quan trọng hồi đó cũng trùng họ và đệm với cụ Đào Duy Từ. Tôi cũng trả lời tương tự...

 

 Thế rồi, cuộc hội thảo ngày hôm sau thành công rực rỡ, không chỉ vì chất lượng nội dung của nó mà còn vì, và rất quan trọng đối với địa phương là hầu hết các vị lãnh đạo ở tỉnh đều tham dự rất... hồ hởi.                

  •  Dương Trung Quốc
     

    Ý kiến đóng góp và bài vở gửi cho Thư Thăng Long - Hà Nội xin liên hệ với địa chỉ: 
    kyduyen@vietnamnet.vn   

     

    PHẢN HỒI CỦA ĐỘC GIẢ VỀ BÀI VIẾT:

    Ho ten: Hồng Quân

    Dia chi: 43 Nguyễn Chí Thanh

    Email: dangbahongquan@...

    Tieu de: Công lao vua Nguyễn.

    Noi dung: Dù có tranh cãi thế nào đi nữa thì vẫn không thể phủ nhận rằng Nguyễn Huệ là một thiên tài quân sự, trăm trận trăm thắng, không thua bất kỳ một chiến dịch nào, một trận chiến nào. Đó là chưa kể đến công lao đánh thắng quân xâm lược Xiêm, Thanh, dùng thuyền thúng mà bắn cháy được cả tàu đồng của Hà Lan và Pháp. Đối với một đất nước giàu truyền thống giữ nước như Việt Nam, công tích của Nguyễn Huệ viết thêm một trang sử oai hùng. Về vấn đề ai là người có công thống nhất đất nước, phải thấy được quyết định táo bạo vượt tầm thời đại của ông. Rất nhiều ý kiến vào thời đó coi Đàng Trong và Đàng Ngoài là hai quốc gia láng giềng. Khi Nguyễn Huệ cưới Ngọc Hân, các quan trong triều vua Lê nói với nhau rằng “Vậy là nước ta đã có một nước dâu gia” (Hoàng Lê Nhất thống chí). Sau khi lấy được giang sơn của các chúa Nguyễn, Nguyễn Huệ đã không ngồi yên ở Đàng Trong mà quyết định vượt sông Gianh, tiến ra Bắc.Người đặt nền móng cho sự thống nhất đất nước là Nguyễn Huệ. Còn các vua Nguyễn, dù có tranh cãi thế nào cũng không thể quên được sự trả thù tàn khốc của Nguyễn Ánh đối với Nguyễn Huệ và Tây Sơn, ngay cả khi Nguyễn Huệ đã qua đời. Không thể xóa bỏ một sự thật lịch sử là các vua nhà Nguyễn, trước sự thay đổi của thời đại, đã không nhận thức được xu thế tất yếu, duy trì đất nước trong cảnh tăm tối, đạo học cổ hủ, như Nguyễn Trường Tộ đã chỉ ra, “ngồi ở phương Nam mà bàn chuyện phương Bắc, đất Nghệ An, Hà Tĩnh mà lại đi nói chuyện Sơn Đông, Sơn Tây, v.v…” Để đất nước yếu kém, rơi vào cảnh ngoại xâm, anh em trong nhà giết hại lẫn nhau, xây lăng tẩm tốn kém, khởi nghĩa nổ ra rất nhiều.

     

    Ho ten: Nguyễn Ngọc Hà

    Dia chi:  TP Phan Thiết

    Email: nguyenhabt@...

    Noi dung: "Sử học là một khoa học, nhưng nó cũng không thể không mang màu sắc chính trị. Thời đại nào, ở đâu và ai cầm bút viết sử cũng vậy. Chỉ có điều chính trị biết phục tùng quy luật, căn cứ vào tính chân thực trong nhận thức quá khứ, đó sẽ là nền chính trị bền vững và trường tồn, cho dù đạt tới tiêu chí đó không dễ dàng. Và ngược lại, nếu bất chấp quy luật, duy ý chí thì chỉ có thể đạt đựoc những mục tiêu trước mắt nhưng

    sẽ không bền vững. Sử học bao giờ cũng là sự phản chiếu nền chính trị đương thời". Tôi tán đồng nhận định trên. Mong rằng các học giả uyên thâm có cao kiến để chúng tôi được học hỏi.

     

    Email: anhld@...

    Noi dung: Đánh giá về lịch sử (thời xưa) là một vấn đề không đơn giản. Làm sao để có cái nhìn biện chứng, khách quan, công bằng là một vấn đề quan trọng. Theo tôi,  cần có cái nhìn toàn diện, đúng đắn về những gì đã qua (như triều đại nhà Nguyễn) là một việc đáng làm!

     

    Ho ten: Không họ tên

    Noi dung: Tôi đồng ý với nhận định của nhà sử học Dương Trung Quốc.

     

    Ho ten: Bong

    Dia chi: Lâm Đồng.

    Email: phanvanbong_linh@...

    Tieu de: Xin cám ơn

    Noi dung: Xin cảm ơn bài viết của nhà sử học Dương Trung Quốc. Người La Mã nói "Hãy trả lại cho Xeda...". Rồi đến lúc nào đấy chân giá trị sẽ sáng tỏ, công- tội sẽ phải rõ ràng. "Người lớn" và "người nhỏ" rồi cũng có lúc ngồi lại với nhau mà hướng về "người xưa" một cái nhìn công tâm nhất, để "người trẻ" sau này biết yêu biết ghét cho phải đạo hậu sinh. Phải không ạ?

     

    Ho ten: Nguyễn Anh

    Dia chi: Việt Nam

    Noi dung: Xin chân thành cảm ơn nhà sử học Dương Trung Quốc có cách nhìn nhận cực kỳ khoa học và khách quan, đúng với lương tâm của một nhà khoa học. Những quan điểm sử học đúng đắn sẽ góp phần định hướng cả dân tộc Việt Nam là một khối đoàn kết

    trên con đường phát triển.

     

    Ho ten: Nguyễn Đình Thảng

    Dia chi:  Nha Trang- Khánh Hòa

    Email: khang060903@...

    Tieu de: Chính trực- tiêu chí số 1

    Noi dung: Tôi rất vui đọc hai bài của NSH Dương Trung Quốc. Tôi chia sẻ với ông về sự "chừng mực" cần thiết. Tôi nghĩ sự cực đoan cũng có lúc rất "cần"; tuy nhiên, trong sử học thì phải hết sức tránh.

     

     Ho và ten: KTS Trần Thanh Vân   

     Noi dung: Tôi không phải là nhà sử học, nhưng là kiến trúc sư, tôi lại nghĩ rằng lịch sử và các nhân vật lịch sử đã tạo nên dấu ấn quan trọng của thơì đại sinh ra họ, đó là lãnh thổ, kinh đô và kiến trúc

    . 

      Hy Lạp cổ đại và La Mã cổ đại đã từng có rất nhiều anh hùng và có nhiều bạo chúa, có các cuộc chiến tranh đẫm máu và có những cuộc xây dựng bền bỉ và vĩ đại, tạo nên những công trình bất hủ tồn tại mãi mãi với hậu thế, đó là những kỳ quan ở Athens và ở La Mã mà ngày nay vẫn được cả thế giơí ngưỡng mộ và thán phục. Ai Cập cổ đại cũng để lại cho chúng ta những kim tự tháp hùng vĩ mà giơí khoa học hiện đại vẫn chưa hết kinh ngạc bởi tài sáng tạo kỳ lạ của các Pharaoh. Ở Trung Quốc hơn 2000 năm trước, Tần Thuỷ Hoàng cũng là một bạo chúa, nhưng người Trung Quốc ngày nay rất tự hào viết lên dòng chữ ngợi ca di sản vĩ đại: “Bất đáo Trường Thành, phi hảo hán”, bởi vì chính là Tần Thuỷ Hoàng chứ không ai khác, đã được hậu thế ghi nhận là người có công đầu trong việc hợp nhất và mở mang cương thổ đất nước Trung Hoa bao la thành một quốc gia thống nhất. Ở thành phố Arga Ấn Độ, vua Shajehan xây Đền Taj Mahan nôỉ tiếng đẹp và tinh xảo chỉ để kỷ niệm tình yêu với vợ là Hoàng hậu Mumjaz Mahal.

     

     Ở đất nước ta, công trình kiến trúc cổ được lưu lại không nhiều lắm, nhưng cũng đủ để cho chúng ta ghi nhận những bước thăng trầm của Lịch sử. Cổ xưa nhất là khu di tích Đền Hùng ở xã Phong Châu tỉnh Phú Thọ và kế tiếp là khu Đền Cổ Loa thờ Thục Phán An Dương Vương và thờ Ngô Quyền. Do kiến trúc của Việt Nam chỉ là kiến trúc gỗ, nên hầu hết các khu di tích đều đã được trùng tu nhiều lần, chúng ta không thể đánh giá nghệ thuật kiến trúc nguyên thuỷ của khu di tích đó khi nhìn vào các công trình đã trùng tu này, nhưng ta có nhiều cơ sở để đặt niềm tin vào thời kỳ huy hoàng của những triều đại đã tạo ra các khu di tích, cho dù lúc này chỉ còn phế tích. Đến thăm khu di tích Đền Hùng và được nhìn thấy rất nhiều cổ vật thu nhặt được, trong đó có chiếc trống đồng Đông Sơn đường kính tới gần 100cm và cao tới 60cm, người tham quan không thể không thừa nhận các Vua Hùng và nước Văn Lang xưa đã có một thơì rất thịnh vượng. Đến thăm đền Cổ Loa, câu chuyện truyền thuyết về môí tình Mỵ Châu- Trọng Thuỷ và việc tồn tại một cái am thờ một người con gái cụt đầu trong suốt nhiều thế kỷ qua đã được dân ta trân trọng thờ phụng, tất phải nói lên một dụng ý sâu sắc nào đó. Giáo sư Trần Quốc Vượng cho rằng thơì kỳ đó dân ta khá giầu và nghề đúc đồng rất phát triển. Ông cũng cho rằng thời kỳ đó dân ta đã có một bài học đắt giá về lòng nhân hậu và tình yêu chung thuỷ đã đặt không đúng chỗ.

     

     Trở lại việc đánh giá Vương triều Nguyễn, tôi cho rằng “công và tội ” sẽ được đánh giá không khó lắm bởi vì đây là triều đại cuôí cùng, mới kết thúc hơn 60 năm thôi. Tuy vậy, dù triều Nguyễn có “công” hay có “tội”, thì Kinh thành Huế, một di sản văn hoá của đất nước, mà đã bị đập phá như đã từng bị đập phá nhiều năm qua là lối hành xử thiếu văn hoá, thiển cận không thể chấp nhận được. Cũng tương tự như vậy, việc vua Nguyễn Gia Long đã cho đập tan Hoàng thành Thăng Long năm 1803, nhằm xoá quyền uy của hào khí Thăng Long, rôì sau đó vua Minh Mạng lập ra tỉnh mang tên Hà Nôị, có nghiã là “trong sông” tầm thường, làm cho giơí chí sĩ Hà thành ôm hận hơn 200 năm qua cũng không thể được. Việc phục hồi những dấu tích giá trị của Hoàng thành Thăng Long và phục hôì tên Thủ đô Thăng Long trong dịp kỷ niệm 1000 năm là vô cùng cần thiết, cũng như việc tu tạo cố đô Huế, để Huế mãi mãi là một di sản văn hoá của đất nước, là trách nhiệm của cả nước. Các thế kỷ sau này, hậu thế có thể cho qua “công và tôị” của các nhân vật lịch sử, nhưng hậu thế sẽ rất trân trọng kho tàng văn hoá do các nhân vật lịch sử để lại, cho dù khơỉ đầu họ làm là vì ham muốn riêng của cá nhân họ               

     

    Ho ten: Nguyễn Trung

    Dia chi: Hà Nội

    Email: tritrung1963@...

    Tieu de: Một bài viết hay.

    Noi dung: Tôi rất tâm đắc với bài viết của nhà sử học Dương Trung Quốc.Cổ nhân nói, nếu lấy cái tội mà lấp mất công lao của người ta là bất nhân. Hơn ai hết, sử gia phải là người trung thực, công bằng và có lòng nhân. Vì có lòng nhân mới đánh giá đúng công và tội, mới không có đen, trắng thay đổi. Còn nếu không có thì chỉ viết ra ngụy sử mà thôi. Nhân đây cũng mong muốn giới sử học nước nhà sẽ có những hội thảo đánh giá đúng bản chất công và tội của các triều đại Hồ Quý Ly, Mạc Đăng Dung, chúa Trịnh và Tây Sơn.

      

    Ho ten: Vô danh

    Dia chi: Hà Nội

    Email: daucocophieu2008@...

    Tieu de: Khách quan trung thực - công bằng

    Noi dung: Nói gì thì nói, công tích của các vua chúa Nguyễn là không thể phủ nhận. Nếu không có chúa Nguyễn Hoàng mang gươm đi mở cõi thì ngày nay chúng ta có mảnh đất phương Nam không?  Giữ được nước đã khó mà mở mang bờ cõi còn khó hơn rất nhiều. Chúng ta ghi công tích của Nguyễn Huệ trong việc đánh Thanh, đuổi Xiêm, ngài cũng là bậc anh hùng vĩ đại của dân tộc ta nhưng đánh giá công - tội nên khách quan, không thể nói rằng triều Nguyễn là phản động toàn diện khi trả thù khốc liệt Tây Sơn, kể cả khi Nguyễn Huệ qua đời. Chiến tranh thì đó là điều không thể tránh khỏi.  Ai cũng có công - tội và nên khách quan trong đánh giá.

     

    Ho ten: Lê Phong

    Dia chi: Hà Nội

    Email: thichnghetruyen@...

    Tieu de: Tôi đã giật mình về hiểu biết của mình

    Noi dung: Cách đây không lâu, nhận thức của tôi về nhà Nguyễn là nhận thức thu nhận được từ SGK. Đó là một thành kiến nặng nề, phủ định sạch trơn. Nhân một lần qua Huế, tôi đến thăm Khiêm Lăng của vua Tự Đức và xem bản dịch của Khiêm bia do chính

    ông ngự bút. Trong đó có một đoạn ông tự nhận tội đánh mất nước vào tay người Pháp. Tôi đã kinh ngạc vô cùng. Xưa nay, người ta vẫn có thói quen tô hồng lý lịch của mình. Đặc biệt, dám đem tội lỗi ghi lên bia đá là một hành động đáng trọng của một con người đáng tôn trọng. Từ đó tôi tự tìm đọc sách vở tham khảo và hiểu dần sự thật lịch sử. Khi cuộc hội thảo diễn ra ở Thanh Hoá, tôi không ngạc nhiên mà chỉ mừng vì cái gì đến đã

    phải đến. Hy vọng, con tôi sẽ được học một bộ SGK lịch sử đúng đắn, khách quan. Ghi nhận sự thực triều Nguyễn cũng không có nghĩa là phủ định, làm giảm công lao nhà Tây Sơn. Giới sử học hãy đánh giá thật công bằng. Mọi sự cực đoan đều cố gắng nên tránh, vì chúng ta đã phải trả giá nhiều

     

    Ho ten: Vũ Thanh

    Dia chi: Bạc Liêu

    Email: giang.vuthanh@...

    Tieu de: Có muộn quá không

    Noi dung: Rất cám ơn ông Dương Trung Quốc đưa ra những đánh giá thẳng thắn, trung thực, cung cấp nhiều điều mà những người dân chưa được tiếp cận. Đất nước đã độc lập, vết thương chia cắt đã và sẽ lành nhưng những nhận thức về lịch sử của chúng ta còn nhiều thiếu sót. Đánh giá lịch sử một cách ấu trĩ, một chiều, để phục vụ mục đích nhất thời là điều tôi nghĩ chúng ta phải nghiêm túc chỉnh sửa nhất là trong các sách lịch sử. Dù muốn dù không những "Sử gia công chức" cũng phải chịu trách nhiệm trước lịch sử, trước các tầng lớp học sinh về những sai lầm của mình.Tôi rất mong được đọc những bài của ông DTQ và của những nhà sử học chân chính để nâng cao nhận thức và thêm yêu

    Tổ Quốc .

     

    Ho ten: Nguyễn Tấn Phước

    Dia chi: Long An

    Email: phuoccashew@...

    Tieu de: Phản hồi.

    Noi dung: Tôi tâm đắc với ý kiến của nhà sử học Dương Trung Quốc.

     

    Ho ten: Nguyễn Hữu Lộc

    Email: huulocnguyen2001@...

    Noi dung: Tôi rất đồng tình với nhận xét của KTS Trần Thanh Vân đánh giá về tội của một vài nhân vật lịch sử triều Nguyễn khi tiến hành đập phá Hoàng thành Thăng Long hay lăng tẩm nhà Tây Sơn. Qua đó ta đánh giá được nhân cách của các nhân vật lịch sử đó. Việc xây dựng kinh thành Huế hay tổ chức tuần tra hải đảo, tôi cho rằng bất kỳ triều đại nào cũng sẽ làm thế để bảo vệ quyền lực của mình. Theo tôi điều đó rất bình thường nếu so sánh với các triều đại phong kiến khác ở nước ta. Ta trân trọng những gì triều Nguyễn để lại và những điều có ích đã làm cho đất nước, cho dân tộc. Và ta cũng sẽ không như triều Nguyễn là sẽ "đập phá" tất cả những gì của triều đại trước. Nếu làm như vậy thì làm gì còn để ngày nay các di tích được công nhận là di sản văn hóa thế giới. Theo tôi, ta trân trọng những gì tốt đẹp do triều Nguyễn để lại, đánh giá đúng công tội của từng nhân vật lịch sử của triều Nguyễn nhưng khi đánh giá cần so sánh với các nhân vật lịch sử trong suốt chiều dài của lịch sử dân tộc Việt Nam để có cái nhìn công bằng và việc đánh giá dựa trên nền tảng đức tính cốt lõi của người Việt Nam – đó là lòng tự trọng, tính nhân hậu và đức vị tha. Có đánh giá như vậy ta mới thực sự "hiểu" được lịch sử của

    dân tộc.

     

    Ho ten: Hoàng Tùng

    Dia chi: Hà Đông

    Email: gamma_1980@...

    Tieu de: Góp ý đôi lời

    Noi dung: Bài viết của ông Dương Trung Quốc cung cấp nhiều thông tin có giá trị để độc giả hiểu được sự biến động mạnh mẽ của xã hội Việt Nam trong suốt cả thời kỳ lịch sử từ thế kỷ 16 - 19. Đây là giai đoạn mà trước đây, mỗi khi nhắc đến người ta thường có thái độ lạnh lùng, khinh miệt đối với các chúa Trịnh, chúa Nguyễn, nhà Mạc...vì có lẽ họ đã gây ra chiến tranh chia cắt hai miền, đời sống nhân dân khổ sở lầm than. Nhưng rõ ràng là hiện nay đứng trước yêu cầu mạnh mẽ của hội nhập và phát triển cũng như bảo vệ Tổ quốc chúng ta cần nghiêm khắc nhìn thẳng vào sự thật và dám nói thật về các sự kiện lịch sử để qua đó rút ra các bài học kinh nghiệm cho thực tiễn đấu tranh phát triiển kinh tế và quốc phòng thời hiện đại. Đồng thời cũng là "giải oan" cho một số các nhân vật, các chính thể đã từng mang tiếng xấu trước đó.

     

    Ho ten: Nguyễn Minh Hùng

    Dia chi: Kim Liên-HN

    Email: nguyenminhhungta@...

    Tieu de: Rất hoan nghênh bài viết của NSH Dương Trung Quốc

    Noi dung: Xin cảm ơn nhà sử học họ Dương! Tôi cũng là một cựu SV khoa LS ĐHTH- HN nay là ĐHKHXH và NV, tuy nhiên, khi học tập, nghiên cứu về nhà Nguyễn còn rất sơ sài. Tôi là độc giả thường xuyên của  tạp chí Xưa và Nay nên cũng được đọc nhiều tài liệu, bài viết về triều Nguyễn thời gian gần đây. Đúng là cần phải có thời gian và quan điểm mới về đánh giá triều Nguyễn trong lịch sử, phải viết lại SGK...

     

    Ho ten: Nguyễn Trọng Thanh

    Email: thanhtcldlilama@...

    Tieu de: Thay đổi nhận thức

    Noi dung: Bài viết của nhà sử học Dương Trung Quốc đã phần nào cho người đọc một cái nhìn tổng quát nhất sự thay đổi về mặt nhận thức, tư duy hay nói cách khác là đổi mới hoàn toàn sự "phán xét", đánh giá một cách công bằng và khách quan về triều đại

    cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam. Tôi hoàn toàn ủng hộ sự thay đổi này. Trước đây, những vấn đề mà cuộc hội thảo vừa rồi đề cập đến đã được các sử gia miền Nam nói rất nhiều. Có lẽ giờ mới là sự "chín muồi" để đánh giá thật khách quan, khoa học, biện chứng về triều Nguyễn?

     

     

     Ý kiến bạn đọc :

,
Gửi cho bạn bè In tin này
Ý kiến của bạn
Ý kiến bạn đọc
,
,
,
,