,
221
505
Thư Thăng Long
thuhanoi
/thuhanoi/
1195112
Hoa dong riềng ký ức
1
Article
null
,

Hoa dong riềng ký ức

Cập nhật lúc 08:51, Thứ Bảy, 02/05/2009 (GMT+7)
,

- …Tôi bỗng nhớ tới những cánh đồng hoa dong riềng vàng cam rực rỡ, dung dị đâu đó ở một miền quê xa xôi đẹp như những trang văn, với niềm biết ơn đã nuôi lớn chúng tôi những tháng năm can qua…

Có một chiều hè hầm hập nắng, hầm hập người, hầm hập những gương mặt đầy tâm trạng… Nhích từng chút một giữa cái ngột ngạt của sự kẹt xe thường ngày, bất chợt, tôi không tin được ở mắt mình. Ngay trước khách sạn 5 sao nổi tiếng, nơi có chiếc ống khói cao vút, chúng tôi thường gọi: Khách sạn Lò Gạch, là một mảnh vườn nhỏ rực rỡ màu vàng cam - nở đầy hoa dong riềng, thứ hoa quê mùa mà duyên dáng tựa những cô thôn nữ. Giữa đường phố Hà Nội ồn ào bán, ồn ào mua, cái màu vàng cam sáng ngời, dung dị như ký ức xa lắc, bỗng khiến lòng tôi chùng xuống, dịu vợi…

Hoa dong riềng - Ảnh: photobucket.vn


Chẳng ai có thể nghĩ rằng, đôi khi trong cuộc sống, con người ta bước vào trang văn của đất nước, mà không hay hấn rằng mình cũng là một “chứng nhân” lịch sử - cho dù thân phận nhỏ như hạt cát, và nhẹ như mùi thơm thoáng của hoa dong riềng. Chúng tôi, những đứa trẻ lớn lên trong những năm tháng giông bão chiến tranh cứu nước, thanh âm quen thuộc ngày ngày là tiếng còi báo động, là tiếng loa truyền thanh nghe thật hoang mang: “Đồng bào chú ý, đồng bào chú ý, máy bay địch cách Hà Nội…”, đã tự nhiên bước vào một trang văn như thế.

Trang văn ấy là một làng quê nổi tiếng về nhãn, về đay. Nơi có mối tình đẹp hư ảo giữa nàng công chúa Tiên Dung và chàng ngư dân Chử Đồng Tử, nơi ngôi trường THPT Chu Văn An của chúng tôi sơ tán về cái xã có cái tên thật trong sáng - Bình Minh.

Nhưng có một buổi chiều, khi thơ thẩn trên đê ngắm cảnh làng quê, tiếng những viên đá dăm lạo xạo dưới đôi dép cao su, lòng buồn nhớ da diết, nhớ mẹ, nhớ cha, nhớ Hà Nội sáng đèn… tôi đã ngợp người trước những cánh đồng hoa dong riềng đầy ấn tượng. Những bông hoa chỉ một màu vàng cam, hoặc đỏ cam rực rỡ, tươi tắn, cứng cáp, nhẹ nhàng len lỏi trong cảm xúc ngất ngây con gái. Và tôi cứ tự hỏi mình rằng, vì sao đất thì nâu, nước thì không màu, mà tạo hóa lại cho ra đời những bông hoa màu cam đặc sắc như màu của lửa, màu của hội họa vậy.

Ấn tượng nữa trong tôi còn là những con đường làng, gạch xếp chênh chếch lên nhau đều tăm tắp. Các cụ già kể rằng ngày xưa, nhà nào có con gái đi lấy chồng, các cô gái đều phải nộp cho làng một số gạch để xây làm đường đi, như một sự cảm tạ và báo đáp cha mẹ, chòm xóm, đất trời đã dung dưỡng cho mình sự lớn khôn. Nhờ thế, làng có những con đường đẹp đến vậy.

Câu chuyện về phong tục làng xã ấy quyến rũ tôi đến nỗi mỗi khi cắp sách đi trên đường làng, tôi lại thích thú cúi xuống ngắm những viên gạch lát xếp đều tăm tắp, tự hỏi có bao nhiêu thôn nữ ở làng này đã đi lấy chồng? Giờ họ nơi đâu - những bông hoa dong riềng dung dị, mà thân phận “mười hai bến nước” lặn lội trong miền cổ tích, biết đậu “bến nào trong”…

Và bài học đầu tiên của lũ học trò chúng tôi những năm tháng trời đất nghiêng ngả vì bom đạn ấy, chưa phải là bài học trong trang sách giáo khoa, mà trong trang đời cuộc sống, một cuộc sống mới mẻ, lạ lẫm, đầy sự khám phá.

Hóa ra, cây dong riềng không chỉ nở hoa đẹp, mà nó còn cho ra loại củ - dong riềng. Hóa ra, bát chè cốm khi còn ở thành phố, mẹ vẫn nấu cho chị em tôi ăn bằng thứ bột trong suốt gọi là bột hoàng tinh, thoảng mùi va-ni, trên mặt bát chè lốm đốm, lắc rắc những hạt cốm già thơm thơm lại chính là loại bột dong riềng này đây.

Hồi đó làm gì có được thứ bột sắn dây tinh khiết, mát lành như bây giờ. Vậy nhưng, với lũ trẻ chúng tôi, món chè cốm chỉ có khi thu về, được nấu bằng thứ bột dong riềng, và khi nấu, mẹ dạy tôi phải gạn bớt đi thứ nước đục đục phía trên vì bột không thật trắng sạch, vẫn làm chúng tôi thích mê tơi, háo hức vô cùng…

Trường Chu Văn An - Ảnh: chuvanan.org

Vào những ngày nghỉ, hay lúc không phải học bài, lũ trẻ thành phố chúng tôi cũng xúm xít vào giúp bác chủ nhà sát bột dong riềng. Loại bột tinh khiết nhất, phơi nắng trắng tinh, bác chủ nhà mang đi để từ đó, làm thành những sợi miến trắng trong phục vụ bộ đội, chiến sĩ.

Còn lại, thứ bột xấu hơn bác bán ở chợ quê, hoặc để ở nhà dùng. Những lúc thấy bọn trẻ chúng tôi đói, mà khi đó, lũ trẻ chúng tôi lúc nào chả thấy đói, bác lại bảo cô con gái đầu lòng lấy bột cho chúng tôi làm bánh. Tuổi đang lớn, với lũ chúng tôi khi đó ăn gì mà chả ngon, miễn là no bụng.

Bột dong riềng được chúng tôi nhào với nước, nặn thành những chiếc bánh méo mó, rồi gói vào lá chuối, lá dong riềng, luộc lên. Bánh chín mở ra ăn, nhạt nhạt, chẳng mắm muối, chẳng chút hương vị gì. Nhưng những lúc đói bụng, lũ trẻ chúng tôi cũng ăn lấy ăn để, xuýt xoa vì bánh nóng, dẻo dẻo, rắn rắn… một cách ngon lành.

Cái bánh bột trong trong, dẻo dẻo, rắn rắn ấy, không hiểu sao, đôi khi ám ảnh tôi những khi giữa những miên man buồn khổ hay thất vọng ở cuộc đời, chợt nhớ về tuổi thơ trong lành, những năm tháng xa thành phố, về một miền quê thanh bình, có những cây rơm vàng ruộm, những nếp nhà nhỏ lợp tranh, khói lam chiều lan tỏa, và nhớ cả mùi nước đái trâu bò… cứ ngai ngái, thoang thoảng trên con đường nhỏ cỏ còn đẫm hơi sương...

Hay vì chính cây dong riềng giản dị ấy cũng đã lặng lẽ nuôi lớn chúng tôi trong những tháng năm thơ dại. Bởi những tháng năm sơ tán, trường chẳng ra trường, lớp chẳng ra lớp, chúng tôi toàn phải học nhờ nhà dân, hoặc dưới những mái tranh sơ sài, bên hầm trú ẩn, nhưng học lại ra học. Ngôi trường THPT Chu Văn An của chúng tôi luôn là một trong những trường học xuất sắc của thành phố.

Dù vậy, điều thích thú nhất của chúng tôi là những ngày đi lao động, đắp ụ pháo cho các chiến sĩ bộ đội. Đó là những ngày, những đứa trẻ học trò thành phố không hề biết tới lao động chân tay bỗng cảm thấy mình như lớn khôn lên. Những cảm xúc thơ ngây cũng gắn với điều gì đó rộng hơn, lớn lao hơn, ý nghĩa hơn.

Có những buổi đi đắp ụ pháo, xa xa những cánh đồng hoa dong riềng đang mùa trổ bông, cứ lãng mạn vàng ruộm cả góc trời. Chúng tôi vừa gánh đất, hoặc vừa hào hứng chuyền tay nhau từng tảng đất to tướng, vừa sôi nổi những bài hát của thời gian khổ mà đầy niềm tin, lý tưởng: “Có những ngày vui sao. Cả nước lên đường. Xao xuyến bờ tre, từng hồi trống giục…”. Những nhịp đập ấy như lớn dần lên trong tâm hồn bé bỏng, bé nhỏ của chúng tôi. Hay chúng tôi vừa bước chân ra khỏi tuổi thơ?...

Những xúc cảm về đất nước rồi cứ mãi ngân dài trong tâm khảm, đi theo suốt cuộc đời tôi, khi tôi trở thành nhà báo, cầm bút dọc dài, rộng ngang xứ sở. Đi theo mãi trong nỗi đau đời, đầy day dứt về thân phận con người, về tự do xứ sở, về chính dân tộc mình… cho đến cái ngày 30/4/1975 lịch sử.

Ôm bó hoa loa kèn trắng muốt trong tay - hoa của Tháng Tư, mừng rơi nước mắt, đi trên đường Hà Nội, tôi bỗng nhớ tới những cánh đồng hoa dong riềng vàng cam rực rỡ, dung dị đâu đó ở một miền quê xa xôi đặc sắc như những trang văn, với niềm biết ơn đã nuôi lớn chúng tôi những tháng năm can qua…

Ở đó, đến một bông hoa dong riềng nhỏ dại, cũng biết sống có “bổn phận” vì đất nước.

  • Kỳ Duyên


     
,
Gửi cho bạn bè In tin này
Ý kiến của bạn
Ý kiến bạn đọc
,
,
,
,