221
443
Văn hoá
vanhoa
/vanhoa/
1123229
Cần khai thông các nguồn sử liệu về chúa Nguyễn, triều Nguyễn
1
Article
null
Cần khai thông các nguồn sử liệu về chúa Nguyễn, triều Nguyễn
,

- Quá trình mở đất xuống phương Nam của các chúa Nguyễn đã thể hiện đầy đủ, tập trung bản lĩnh và sức sống của dân tộc Việt Nam. Đây cũng đồng thời là quá trình thích nghi, hoà đồng, giao thoa, thâu nhận và tiếp biến, tạo thành những giá trị văn hoá mới của toàn thể cộng đồng cư dân Nam Bộ trong dòng chảy văn hoá Việt Nam nói chung- GS NGuyễn Quang Ngọc

Là Trưởng tiểu thời kỳ các chúa Nguyễn trong hội thảo quốc gia "Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử VN từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX", GS sử học Nguyễn Quang Ngọc đã giải nghĩa những điểm đổi mới về nhận thức lịch sử Việt Nam theo phương pháp tiếp cận mới. 

 > Xác lập nhận thức mới về chúa Nguyễn, triều Nguyễn
 > Đột phá trong nhận thức về chúa Nguyễn, triều Nguyễn
 > GS Phan Huy Lê:Khách quan-Trung thực-Công bằng về chúa Nguyễn, triều Nguyễn

Ảnh: Ngô Vương Anh.
Hội thảo "Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử VN từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX" đã kết thúc, xác lập một nhận thức mới về thời kỳ này. Nhưng vẫn còn những băn khoăn rằng chúng ta mới tiếp cận lịch sử Nam Bộ như là cuộc mở mang bờ cõi từ Thuận Hóa, Quảng Nam vào đến vùng đồng bằng sông Cửu Long của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong trong thời gian từ giữa thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XVIII, chứ chưa nghiên cứu những nền văn hóa khác như Chămpa, Phù Nam, Chân Lạp... trước khi thành một phần của nước Việt Nam hiện đại, theo cách tiếp cận khách quan, đúng tiến trình lịch sử? Là người chủ trì tiểu ban về thời kỳ các chúa Nguyễn, GS có thể lý giải điều này?

- Quả thật là các công trình sử học của chúng ta nhiều thập kỷ trước đều chỉ tập trung trình bày lịch sử Việt Nam theo một dòng chảy chủ đạo là từ các nền văn hoá Phùng Nguyên - Đồng Đậu - Gò Mun - Đông Sơn dẫn đến sự ra đời của nhà nước Văn Lang, Âu Lạc, trải qua một nghìn năm Bắc thuộc đến Đại Việt, Đại Nam và Việt Nam mà không đề cập đến các dòng lịch sử Chămpa và Phù Nam - Chân Lạp ở phía Nam.

Nhiều bộ sử trình bày lịch sử Việt Nam chỉ như là lịch sử Nam tiến của người Việt, nghĩa là người Việt tiến về phía Nam đến đâu thì bắt đầu chép sử Việt Nam đến đó. Chúng ta vẫn biết cách chép sử như vậy là do chịu tác động của hoàn cảnh lịch sử đặc biệt ở nửa cuối thế kỷ XX, nhưng rõ ràng không tránh khỏi chủ quan, phiến diện, không phản ánh đúng tiến trình lịch sử đất nước, dẫn đến những quan niệm sai lệch rằng lãnh thổ phía Nam là vùng đất mới khai phá mà bỏ quên những di sản lịch sử văn hoá hết sức quan trọng làm nên lịch sử Việt Nam.

Đấy là câu chuyện của nhiều thập kỷ trước, còn tình hình gần đây thì đã có thay đổi. Không kể đến hàng loạt các công trình chuyên khảo về khảo cổ, văn hoá, nghệ thuật Chămpa, Phù Nam, Khơme, nhiều bộ thông sử, các giáo trình đại học, sách giáo khoa phổ thông cũng đã bắt đầu trình bày lịch sử Việt Nam theo hướng tiếp cận mới, coi lịch sử Việt Nam là lịch sử của tất cả các cộng đồng cư dân, các quốc gia, các nền văn hoá, văn minh đã từng hình thành, tồn tại và phát triển trên lãnh thổ Việt Nam hiện nay.

Vì vấn đề còn rất mới và mặc nhiên là rất khó nên không thể đòi hỏi các nhà sử học phải có ngay được các thao tác thuần thục hay các kiến giải hoàn hảo. Tuy thế, cũng chớ vội quên một chặng đường vật vã chuyển đổi để có được, dù chỉ là ban đầu, những nhận thức mới như ngày hôm nay. Vì vậy, cuộc Hội thảo khoa học về “Chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX” cần được nhìn nhận như là tổng kết một cách cơ bản và hệ thống các thành tựu nghiên cứu trước, làm cơ sở xác lập phương hướng nghiên cứu và trình bày lịch sử Việt Nam khách quan hơn, toàn diện và chuẩn xác hơn, chứ tuyệt nhiên không phải là một sự “đảo lộn hoàn toàn quan niệm nghiên cứu sử học xưa nay”.

Có ý kiến cho rằng cần nghiên cứu kỹ hơn động cơ Nam tiến của Nguyễn Hoàng. Phải chăng động cơ chính là vì bản thân và dòng họ, chứ không phải vì lợi ích của đất nước?

- Tôi xin nói ngay rằng bộ Đại Nam thực lục Tiền biên, tức là bộ chính sử của nhà Nguyễn chép như thế và nhà viết sử đời sau tin như thế cũng là điều bình thường. Nhưng theo tôi, đấy chỉ là lý do trực tiếp, còn chúng ta cần nhìn xa hơn, rộng hơn, phải thấy xu thế phát triển của đất nước, của dân tộc lúc này là mở rộng xuống khu vực phía Nam, bởi với kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước vùng châu thổ sông Hồng thì dù có được khai thác đến mức triệt để cũng không đủ nuôi sống cộng đồng dân cư đang ngày càng phát triển.

Đây cũng không phải là “phát kiến” của riêng Nguyễn Hoàng, mà từ nhiều thế kỷ trước vừa bằng con đường di cư tự phát, vừa có vai trò tổ chức của Nhà nước (Lý, Trần, Hồ, Lê sơ…), các lớp cư dân người Việt đã có mặt ngày một đông trên khắp vùng Thuận - Quảng. Nhiều vùng đất phía Nam dưới các hình thức khác nhau đã từng bước hoà nhập vào guồng phát triển chung của quốc gia Đại Việt. Nguyễn Hoàng vào trấn thủ ở Thuận Hoá 450 năm trước với các chính sách “vỗ về quân dân, thu dùng hào kiệt, sưu thuế nhẹ nhàng, được dân mến phục” đã thúc đẩy nhanh hơn một xu thế phát triển của đất nước từng được định hình từ nhiều thế kỷ trước đó.

Nếu quan niệm một cách giản đơn rằng Nguyễn Hoàng chỉ là "bỏ chạy" trước âm mưu ám hại của chúa Trịnh Kiểm thì cuộc chạy trốn này chưa chắc đã thành công, ấy là chưa nói đến chỉ trong một thời gian ngắn, ông cùng các lớp con cháu và nhân dân Đàng Trong đã biến vùng đất hoang hoá, cư dân thưa thớt trở thành khu vực phát triển và năng động hàng đầu đất nước. Điều rất quan trọng là khi đã vào Đàng Trong, chúa Nguyễn thi hành nhiều chính sách tiến bộ và phù hợp để thúc đẩy nhanh hơn tiến trình phát triển của đất nước.

Nguyễn Hoàng gây dựng cơ sở riêng nhưng vẫn còn lệ thuộc vào chính quyền vua Lê chúa Trịnh ở Đàng Ngoài. Đến con ông, Nguyễn Phúc Nguyên sinh ra ở Đàng Trong, trưởng thành giữa lúc Biển Đông dậy sóng giao thương, đất nước hội thêm được thế và lực mới, ông thực thi hàng loạt các chính sách khai hoang, xác lập chủ quyền, phát triển kinh tế, xã hội, trở thành bậc Anh hùng mở cõi vĩ đại vào bậc nhất trong lịch sử Việt Nam. Tiểu ban Chúa Nguyễn thế kỷ XVI-XVIII đã thảo luận kỹ và thống nhất đánh giá cao công lao của các chúa Nguyễn trong sự nghiệp khai phá và phát triển vùng đất phía Nam bao gồm toàn bộ các vùng đất liền, đảo ven bờ và quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa giữa Biển Đông - tương đương với lãnh thổ Việt Nam hiện nay.

Sự giao thoa văn hóa tạo ra tính cách riêng của người Đàng Trong (nay là người dân vùng Nam Trung Bộ, Nam Bộ) có là vấn đề được quan tâm trong hội thảo này không?

- Có khá nhiều báo cáo về chủ đề này, nhưng chủ yếu được trình bày ở tiểu ban về Di sản văn hóa, tôi chỉ nói thêm một vài ý có liên quan đến lịch sử mở rộng bờ cõi xuống phương Nam của các chúa Nguyễn thôi. Không gian lịch sử - văn hoá Nam Bộ được hình thành và phát triển trong bối cảnh có nhiều thay đổi (của vùng, của đất nước và thế giới) ở thế kỷ XVII, XVIII; dưới tác động của các điều kiện tự nhiên, xã hội, kinh tế và văn hoá khác trước và cũng khác các vùng trong nước, nên cuộc sống và tính cách của người dân Nam Bộ đã định hình những nét riêng, không giống với Thuận - Quảng và châu thổ sông Hồng.

Chúng ta hình dung thế hệ những người dân đầu tiên vượt ra khỏi xóm làng và cánh đồng chật hẹp của vùng Bắc Bộ để đi tìm đất mới, bản thân họ có sẵn khát vọng tự do, tư tưởng tự do. Khi vào đến Thuận - Quảng (là khu vực văn hoá Chămpa với nền kinh tế hướng biển), cuộc sống của họ ít nhiều đã có những biến đổi, kết hợp giữa văn hoá Việt với văn hoá Chăm, truyền thống Việt với truyền thống Chăm tạo thành một sắc thái văn hoá mới theo định hướng mở.

Không dừng lại ở Thuận Quảng và rồi từ Thuận Quảng, họ lại tiếp tục các cuộc di cư nữa xuống phía Nam, vào đồng bằng sông Cửu Long. Đây là vùng đất thoáng, rộng, phì nhiêu, một chân trời tự do nhưng cũng đầy gian nan thách thức, một khung cảnh giao lưu tiếp xúc rộng rãi với thị trường nội địa, thị trường quốc tế khá sôi động, với các nhóm dân cư định cư từ trước, với những người mới nhập cư từ Trung Quốc, Nhật Bản, từ các nước Đông Nam Á, Ấn Độ và phương Tây… đã tác động tạo nên một lối sống mới, văn hóa mới, có những nét khác so với khu vực Thuận - Quảng và càng khác hơn so với khu vực châu thổ sông Hồng vẫn còn bảo lưu nặng các giá trị cổ truyền của cộng đồng cư dân nông nghiệp trồng lúa nước công điền độc canh.

Quá trình mở đất xuống phương Nam của các chúa Nguyễn đã thể hiện đầy đủ, tập trung bản lĩnh và sức sống của dân tộc Việt Nam. Đây cũng đồng thời là quá trình thích nghi, hoà đồng, giao thoa, thâu nhận và tiếp biến, tạo thành những giá trị văn hoá mới của toàn thể cộng đồng cư dân Nam Bộ trong dòng chảy văn hoá Việt Nam nói chung. 

Nguyễn Ánh đã có công lớn thống nhất đất nước, nhưng phải chăng không thống nhất được lòng dân, nên xã hội thời Nguyễn ngay từ thời điểm bắt đầu đã không ổn định, khởi nghĩa nông dân nổ ra triền miên và triều Nguyễn không thể nào giải quyết nổi. Tại sao và đánh giá thực trạng đó như thế nào cho thỏa đáng?

- Vấn đề khởi nghĩa nông dân không phải chỉ là vấn đề của thời kỳ nhà Nguyễn và Nguyễn Ánh. Từ những năm 30 của thế kỷ XVIII, khởi nghĩa nông dân và chiến tranh nông dân đã bùng nổ và lan tràn khắp từ đồng bằng châu thổ sông Hồng đến khu vực miền núi, với các cuộc khởi nghĩa điển hình như của Nguyễn Hữu Cầu, Nguyễn Danh Phương, Hoàng Công Chất, Lê Duy Mật..., rồi sau đó được kết lại trong phong trào nông dân Tây Sơn ở Bình Định. Phong trào nông dân Tây Sơn đã vươn lên thực hiện xuất sắc và triệt để nhiệm vụ chống ngoại xâm, bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc, bước đầu thực hiện thống nhất đất nước, thi hành một số cải cách tiến bộ, tuy xét cho đến cùng thì vẫn chưa đưa được đất nước thoát ra khỏi sự khủng hoảng và bế tắc của kinh tế tiểu nông.

Sang thế kỷ XIX, Nguyễn Ánh thống nhất quốc gia, nhưng vẫn trên cái nền xã hội chưa có sự thay đổi cơ bản, nhiều vấn đề của nông thôn - nông nghiệp - nông dân vẫn chưa được giải quyết. Ngay khi lên ngôi Hoàng đế, Gia Long đã nhận ra rất rõ thực trạng này, ông cho rằng: "Nước là họp các làng mà thành. Dạy dân nên tục, vương chính lấy làng làm trước". Ông quan niệm chính trị làng xã là yếu tố đầu tiên quyết định nền chính trị vương triều. Tư tưởng trị nước của ông xem ra đã có dáng dấp của chính trị học hiện đại, lấy chính trị thường nhật (everday politics) làm nền tảng của nền chính trị đất nước. Trong thực tế, ông đã cố gắng ổn định xã hội nông thôn, củng cố bộ máy quản lý cơ sở, cho lập địa bạ, quản lý đất đai đàng hoàng minh bạch... nhưng công việc phải làm thì quá nhiều, mà việc đã làm thật cũng chưa được bao nhiêu.

Xã hội giống như người đang bị ốm nặng mà quá lâu vẫn chưa tìm được phương thuốc chữa chạy hữu hiệu, nên tình hình vốn đã phức tạp lại càng phức tạp thêm. Sau khi ông qua đời phong trào khởi nghĩa nông dân bùng phát đến đỉnh cao với khoảng 250 cuộc khởi nghĩa trong 20 năm trị vì của vua Minh Mạng. Đành rằng trách nhiệm để xã hội rối ren, hỗn loạn là thuộc về các vua nhà Nguyễn, nhưng cũng cần phải nghiên cứu hết sức cụ thể và bài bản để có những suy xét đầy đủ, toàn diện và khách quan, chứ không nên suy diễn giản đơn rằng đã là khởi nghĩa nông dân thì ở đâu cũng tiến bộ và cách mạng, còn đối lập với nó thì mặc nhiên là thối nát và phản động!.

Với những vấn đề còn tranh luận, chưa có sự đồng thuận trong nhận thức, GS có thể lý giải vài nguyên nhân? phải chăng do sự khác nhau về tư duy? góc nhìn? Hay do tiếp cận nguồn tư liệu? Làm sao để ta có thể tiệm cận chân lý?

- Theo tôi, một nguyên nhân quan trọng là do các nguồn tư liệu, thông tin chưa được khai thác triệt để, cả nguồn tư liệu ở Việt Nam và nước ngoài, tư nhân cũng như nhà nước. Thời kỳ chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn là thời kỳ đã để lại một khối lượng tư liệu đồ sộ, hết sức phong phú và cũng đã được quan tâm khai thác nhưng vẫn chưa đủ cho các công trình nghiên cứu chuyên sâu. Đó là chưa nói, ở nước ta tình trạng độc quyền, chia cắt tư liệu vẫn còn khá phổ biến.

 Sử học là khoa học khai thác và sử dụng các nguồn sử liệu. Tôi tin rằng rồi đây tất cả các nguồn tư liệu sẽ được khai thông, nhà sử học Việt Nam không còn phải băn khoăn về cơ sở tư liệu cho công trình của mình mà toàn tâm toàn ý cho nghiên cứu và sáng tạo. Khi đó chắc chắn các công trình sử học về chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn sẽ có chất lượng cao hơn và tiệm cận gần hơn với sự thật lịch sử.

Một điểm cần phải nói nữa là các nhà sử học Việt Nam lâu nay chủ yếu tiếp cận các đề tài lịch sử bằng phương pháp chuyên ngành. Điều này đúng nhưng chưa đủ. Trong thực tế một sự kiện, một vấn đề lịch sử bao giờ cũng là kết quả tổng hợp của rất nhiều các tác động bên trong, bên ngoài, chủ quan, khách quan. Sử học bên cạnh thao tác nghiên cứu chuyên ngành, nhất thiết phải mở rộng tiếp cận liên ngành (Inter-disciplinary). Việc tổ chức các nhóm nghiên cứu hay tổ chức các hội nghị, hội thảo, toạ đàm, diễn đàn học thuật… có sự tham gia của chuyên gia thuộc nhiều lĩnh vực chuyên môn khác nhau cùng nghiên cứu, thảo luận về một vấn đề lịch sử cụ thể là hết sức cần thiết.

Trong cuộc Hội thảo vừa rồi các tiểu ban đều bàn nhiều đến “công” và “tội” của Nguyễn Ánh. Người kể công và người luận tội đều đưa ra cả một hệ thống những chứng lý. Tuy nhiên không ít người tham gia tranh luận chỉ lo trình bày và bảo vệ ý kiến chủ quan của mình một cách cực đoan nên thực sự không có đóng góp gì  cho khoa học. Theo tôi, chúng ta cần có thêm thời gian hợp tác cùng nhau để tập hợp, hệ thống, đánh giá tất cả các tư liệu liên quan, tôn trọng nguyên tắc bình đẳng giữa các chuyên gia và chuyên ngành khoa học, gạt ra một bên những xét đoán chủ quan, định kiến, cùng nhau trao đổi trên tinh thần khoa học với thái độ thực sự cầu thị thì sẽ có cơ xích lại gần nhau hơn trong các đánh giá, nhận định.

Trong Hội thảo "Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn" vừa rồi, bên cạnh việc tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu, tổng hợp, tổng kết các đề tài nghiên cứu chuyên ngành, cũng đã bước đầu hình thành khuynh hướng nghiên cứu liên ngành. Tôi tin rằng một số vấn đề còn “bỏ ngỏ” của cuộc Hội thảo “Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn” cũng như nhiều vấn đề phức tạp khác của lich sử Việt Nam rồi sẽ được giải quyết thông qua các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành. 

  • Khánh Linh
,
Ý kiến của bạn
Ý kiến bạn đọc
,
,
,
,