Đất nước càng phát triển, các thành tựu kinh tế- xã hội càng lớn thì Việt Nam càng có điều kiện quan tâm thực hiện các quyền con người cho mọi người dân Việt Nam. Có những con số vốn lạnh lùng, khô khan. Nhưng cũng có những con số luôn có hồn vì nó đã “biết nói” và thể hiện trọng lượng, giá trị cao cả của mình trước công luận, trước cộng đồng quốc tế.

{keywords}
Việt Nam ngày càng có điều kiện tạo ra những tiền đề cơ sở vật chất, văn hóa để bảo đảm tốt hơn các quyền cơ bản của con người.

Thành tựu về quyền con người ở Việt Nam trong 70 năm qua thể hiện trên mọi lĩnh vực, nhất là những bước tiến vượt bậc về phát triển kinh tế trong hơn 30 năm đổi mới (1986-2018). Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, quy mô nền kinh tế năm 1985 mới có 14 tỉ USD, thì đến năm 2018 ước đạt 244 tỉ USD, tăng gấp hơn 17,4 lần.

Nền kinh tế Việt Nam hiện đứng thứ 44 thế giới theo GDP danh nghĩa và thứ 34 khi tính theo sức mua tương đương quốc tế. Với việc giảm mạnh tỷ lệ nghèo từ trên 60% (năm 1986) xuống còn khoảng 7% (cuối năm 2017), Việt Nam đã chuyển từ nhóm thu nhập thấp sang thu nhập trung bình. Thu nhập bình quân đầu người năm 1985 mới đạt 230 USD đến nay đã tăng lên gần 2.540 USD (tính theo sức mua tương đương là gần 7.640 USD).

“Có thực mới vực được đạo”. Sự tăng trưởng kinh tế ngoạn mục không chỉ là cơ sở để chúng ta bảo đảm cái ăn, cái mặc cho người dân, mà còn là tiền đề để Nhà nước chăm lo thực hiện tốt các chính sách an sinh, văn hóa xã hội. Điều đó được thể hiện ở “chỉ số phát triển con người” (HDI).

{keywords}
Sự tăng trưởng kinh tế ngoạn mục không chỉ là cơ sở để chúng ta bảo đảm cái ăn, cái mặc cho người dân, mà còn là tiền đề để Nhà nước chăm lo thực hiện tốt các chính sách an sinh, văn hóa xã hội. Điều đó được thể hiện ở “chỉ số phát triển con người”. Ảnh minh họa LAD

Báo cáo chuyên đề về HDI do Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) vừa công bố vào trung tuần tháng 10-2018 cho biết, HDI của Việt Nam tăng liên tục trong 27 năm qua. Trong năm 2017, với chỉ số HDI là 0,684, xếp thứ 116/189 quốc gia, Việt Nam được UNDP đánh giá là quốc gia có chỉ số HDI thuộc nhóm trung bình cao.

Việt Nam cũng là một trong những quốc gia nỗ lực bảo đảm quyền tự do thông tin, tự do ngôn luận cho người dân. Hiện nay, tất cả các ban, bộ, ngành, đoàn thể từ trung ương đến địa phương, các giai cấp, tầng lớp, các hội nghề nghiệp, các giới, các thành phần “nam, phụ, lão, ấu” trong xã hội đều có tờ báo, tạp chí, bản tin của mình.

Nếu mỗi công dân Việt Nam tham gia sinh hoạt, hoạt động ở tổ chức nào thì đều có ấn phẩm báo chí của tổ chức đó bảo đảm quyền được thông tin của mình. Internet mới vào Việt Nam từ cuối năm 1997, chỉ trong vòng 20 năm, nhờ chính sách phát triển thông thoáng, Việt Nam hiện có hơn 60% người dân sử dụng internet, xếp thứ 16 thế giới về số lượng người dùng mạng thông tin toàn cầu này.

Từ một nước bị “bế quan tỏa cảng” về nhiều mặt, Việt Nam đã thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập quốc tế sâu rộng. Đến nay nước ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao với gần 190 nước thuộc tất cả các châu lục, trong đó có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với 3 quốc gia, quan hệ đối tác chiến lược với 13 quốc gia và quan hệ đối tác toàn diện với 11 quốc gia.

Trong số 27 quốc gia này có 5 nước là Ủy viên thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc (Nga, Trung Quốc, Anh, Pháp, Mỹ) và nhiều cường quốc khác như Đức, Ấn Độ, Nhật Bản, Brasil… Việt Nam cũng đã có quan hệ thương mại với trên 200 quốc gia.

Vị thế, hình ảnh, tiếng nói của Việt Nam ngày càng được tăng cường, nâng cao và có uy tín trên trường quốc tế. Vì vậy, Việt Nam đã được tín nhiệm bầu vào các cơ quan quan trọng của Liên hợp quốc như Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an nhiệm kỳ 2008-2009, Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2014-2016, Hội đồng Kinh tế-Xã hội nhiệm kỳ 2016-2018, Hội đồng Chấp hành UNESCO nhiệm kỳ 2015-2019...

Tháng 5/2018, Việt Nam đã được 53 nước châu Á-Thái Bình Dương nhất trí đề cử là ứng cử viên duy nhất của khu vực này làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021.

{keywords}
Việt Nam ngày càng có điều kiện tạo ra những tiền đề cơ sở vật chất, văn hóa để bảo đảm tốt hơn các quyền cơ bản của con người. Ảnh minh họa LAD

Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, không có tên trên bản đồ thế giới, sau hơn bảy mươi năm huy động sức dân đồng lòng thực hiện sự nghiệp kháng chiến, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Việt Nam đã trở thành một quốc gia hòa bình, độc lập, được cộng đồng quốc tế ghi nhận là một trong những nước tiên phong và là điểm sáng về thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ về xóa đói giảm nghèo, thực hiện an sinh, công bằng và tiến bộ xã hội.

Là một quốc gia đang phát triển, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi, Việt Nam cũng phải đối mặt với không ít khó khăn, thử thách. Nhưng với bản chất của một chế độ xã hội ưu việt mà cả dân tộc đã tự nguyện lựa chọn và kiên trì thực hiện, thông qua chủ trương, đường lối phát triển kinh tế- xã hội đúng đắn và hợp xu hướng thời đại.

Việc Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra mục tiêu xây dựng đất nước theo định hướng XHCN “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” với hàm ý nhấn mạnh Việt Nam luôn kiên trì, nỗ lực bảo đảm “quyền sung sướng” (dân giàu) và “quyền tự do” (dân chủ) mà Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nêu ra trong bản Tuyên ngôn Độc lập.

Khi quốc gia giàu có về vật chất, văn hóa, tinh thần và bảo đảm tự do, dân chủ về mọi mặt, đó chính là chiều sâu thể hiện cam kết chính trị của Việt Nam cùng các quốc gia và cộng đồng quốc tế thực hiện hiệu quả những giá trị phổ quát về nhân quyền đã được xác định trong “Tuyên ngôn thế giới về quyền con người”.

Hải Văn