Báo cáo của Bộ LĐ-TB&XH cho biết, năm 2019, ngân sách Trung ương bố trí trên 10.400 tỷ đồng cho Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững (Chương trình), vốn đối ứng địa phương và các nguồn huy động hợp pháp tại 40/63 tỉnh là 2.177 tỷ đồng.

Bên cạnh đó, ngân sách Trung ương tiếp tục bố trí kinh phí để thực hiện các chính sách thường xuyên cho hộ nghèo, hộ cận nghèo như: Y tế, giáo dục, nhà ở, tín dụng ưu đãi, khuyến nông và khuyến lâm, hỗ trợ phát triển sản xuất, xây dựng mô hình giảm nghèo, trợ giúp pháp lý...

Chương trình đã hỗ trợ 100% mệnh giá mua thẻ bảo hiểm y tế (BHYT) cho trên 1,3 triệu hộ nghèo; hỗ trợ 70% mệnh giá mua thẻ BHYT cho hơn 1,2 triệu hộ cận nghèo; thực hiện miễn, giảm học phí và hỗ trợ chi phí học tập cho học sinh, sinh viên.

{keywords}
Giảm 1-1,5% hộ nghèo trong năm 2020 là mục tiêu được nêu lên trong cuộc họp của Ban Chỉ đạo Trung ương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, chiều 10/3, dưới sự chủ trì của Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam, Trưởng Ban Chỉ đạo.

Đã có hơn 1,9 triệu lượt hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác được vay vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội, tạo việc làm cho gần 267.000 lao động, trong đó gần 7.000 lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài; xây dựng hơn 1,2 triệu công trình nước sạch, công trình vệ sinh ở nông thôn; xây dựng hơn 19.000 căn nhà ở cho các đối tượng chính sách...

Nguồn quỹ và nguồn an sinh xã hội của Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam các cấp đã xây mới và sửa chữa 16.121 căn nhà Đại đoàn kết cho người nghèo; thăm, tặng 1.826.000 suất quà tết trị giá trên 913 tỷ đồng cho các hộ gia đình nghèo; thăm, tặng quà các trung tâm nuôi dưỡng trẻ mồ côi, người khuyết tật…

Đến cuối năm 2019, tỷ lệ nghèo cả nước bình quân khoảng dưới 4% (giảm 1,3% so với cuối năm 2018).

Bình quân tỷ lệ hộ nghèo ở các xã đặc biệt khó khăn giảm khoảng 3-4% so với cuối năm 2018.

Tuy nhiên, tình trạng giảm nghèo chưa bền vững, tỷ lệ hộ nghèo phát sinh còn cao (bằng 17,82% tổng số hộ thoát nghèo) chủ yếu do thiên tai, tách hộ.

Chênh lệch giàu - nghèo, tiếp cận các dịch vụ cơ bản, tiếp cận thị trường, việc làm giữa các vùng, nhóm dân cư chưa được thu hẹp, nhất là khu vực miền núi phía Bắc và Tây Nguyên.

Một số chính sách mang tính chất hỗ trợ ngắn hạn, thời vụ; trực tiếp, cho không, mang tính bình quân, cào bằng, thời gian đầu có tác dụng tốt, giải quyết được một số khó khăn trước mắt cho người dân, tuy nhiên đến nay không còn phù hợp, nhưng chậm sửa đổi, bổ sung.

Một số Ban chỉ đạo ở địa phương hoạt động chưa hiệu quả, công tác phối hợp giữa các ngành, các cấp chưa nhịp nhàng, đồng bộ. Đội ngũ cán bộ cơ sở xã, phường, thị trấn, nhất là cán bộ làm công tác lao động, thương binh - xã hội, thông tin cơ sở và các hội, đoàn thể không ổn định, thường xuyên thay đổi đã ảnh hưởng đến công tác chỉ đạo điều hành trong công tác giảm nghèo.

Khả năng tiếp nhận chính sách hỗ trợ của đồng bào dân tộc thiểu số còn hạn chế.

Các thành viên Ban Chỉ đạo thống nhất nhận định cần tiếp tục thực hiện chương trình giảm nghèo trong gian đoạn 2021-2025 nhưng đổi mới phương pháp tiếp cận, các cách thức hỗ trợ, tiêu chí đánh giá… nhằm kết nối tất cả các chương trình, tổ chức, cá nhân để tạo nguồn lực tổng hợp để hỗ trợ người nghèo về sinh kế, xoá nhà dột nát, cải thiện điều kiện sống của người nghèo.

Trong năm 2020, chúng ta cần tập trung huy động tối đa nguồn lực và dồn sức cho việc thực hiện Chương trình đạt kết quả cao nhất, phấn đấu hoàn thành và hoàn thành vượt mục tiêu năm 2020 và cả giai đoạn 2016-2020.

Một số ý kiến đề nghị ưu tiên đầu tư cho các địa phương  thuộc vùng đặc biệt khó khăn, vùng nhiều đồng bào dân tộc thiểu số, và miền núi; triển khai sâu rộng và tiết thực phong trào “Cả nước chung tay vì người nghèo – Không để ai bị bỏ lại phía sau; tăng cường giám sát việc thực hiện các chính sách đối người nghèo, hộ nghèo là người có công với cách mạng, đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, địa bàn đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc miền núi; rà soát, đánh giá hộ nghèo theo chuẩn đa chiều, có sự tham gia của người dân, cộng đồng dân cư…

Mục tiêu của Chương trình trong năm 2020 là giảm tỷ lệ hộ nghèo cả nước bình quân 1-1,5%/năm (riêng các huyện nghèo, xã nghèo giảm 4%/năm; hộ nghèo dân tộc thiểu số giảm 3-4%/năm) theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều.

Cải thiện sinh kế và nâng cao chất lượng cuộc sống của người nghèo, bảo đảm thu nhập bình quân đầu người của hộ nghèo cả nước cuối năm 2020 tăng lên 1,5 lần so với cuối năm 2015 (riêng hộ nghèo ở các huyện nghèo, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn, hộ nghèo dân tộc thiểu số tăng gấp 2 lần).

Cải thiện điều kiện sống và tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người nghèo.

Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội ở các huyện nghèo, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn được tập trung đầu tư đồng bộ theo tiêu chí nông thôn mới, trước hết là hạ tầng thiết yếu như giao thông, trường học, trạm y tế, thủy lợi nhỏ, nước sinh hoạt.

Thu Hằng HP
Ảnh: Lệ Yên