221
441
Xã hội
xahoi
/xahoi/
1194228
Đời người, phận cò
1
Article
null
Đời người, phận cò
,

 - Gần hai mươi năm ông gắn bó với cò, chăm cò như những đứa con mình, đợi từng cánh cò về như đợi bạn tri kỉ. Vậy mà giờ đây, trước miếng cơm, manh áo, ông Nguyễn Văn Của - chủ rừng cò (4 hecta) ở bản Thọ Liên, xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc (Thanh Hóa) đang phải đứng trước nguy cơ phá bỏ rừng cò. 

Đổ máu vì cò

Bản Thọ Liên một chiều muộn. Mặt trời chỉ còn lấp ló sau những tán cây rừng. Phía xa, từng đàn cò trắng từ dưới xuôi các vùng Tĩnh Gia, Hoằng Hoá, Hậu Lộc và các vùng mạn ngược Quan Hoá, Bá Thước đang đua nhau kéo về quả đồi của gia đình ông Của, làm sáng cả một góc trời. 

Thấy chúng tôi dừng xe bên đường chụp ảnh cò đang về tổ, một ông già cất tiếng thở dài: “Chụp đi! Không sau này chẳng biết có còn cò đâu mà chụp”. Ông là Nguyễn Văn Của - chủ đồi cò.

Tuổi đã ngoài 70, sức khỏe không còn như xưa nên ông Của lo lắng: “Liệu một ngày kia mình nhắm mắt tay xuôi thì những thân cò trắng mỏng manh, yếu ớt này biết  sẽ bay về đâu?”

Cuộc đời ông Của gắn với những cánh cò như là một duyên phận. Năm 1987, ông dẫn đại gia đình mình từ ngã ba Si (cách đó 3km) lên vùng đồi này phát cây trồng luồng, mong sao sẽ có cuộc sống ấm no. Và khi những khóm luồng ra tán cũng là lúc cò từ khắp nơi về đây trú ngụ. 

Ông kể: “Ban đầu, chỉ có một vài đàn, mấy tháng sau cò về nhiều lắm. Lúc đông có khi lên tới hàng vạn con". Đất có lành thì chim mới đậu, ông tin mảnh đất nơi đây sẽ làm cho gia đình mình thoát cảnh chạy ăn từng bữa.

Bên mâm cơm gia đình, ông vẫn thường căn dặn con cháu trong nhà không được bắt, bắn hay làm bất cứ điều gì làm “mếch lòng” để chúng bay đi mất. Gần 20 năm gắn bó với nhau, cái tình cảm giữa người và cò tưởng như không thể tách rời. 

Chẳng thế mà lúc có người khuyên: “Sao không bắt ít cò đi mà bán lấy tiền đong gạo, làm gì cũng phải no cái bụng đã chứ”. Những lúc như vậy ông chỉ cười: “Tôi thà chịu đói chứ không đành làm cái chuyện thất đức ấy”.

Bảo vệ đàn cò như những đứa con mình, nhiều khi ông bị chính vợ con mình cho là gàn dở. Ông giữ không cho các con khai thác luồng khi cò còn ở trên đồi hay vào những tháng cò đẻ. Thường thì cứ sáng ra là chúng lại bay đi kiếm thức ăn ở các cánh đồng ở khắp các vùng quê trong tỉnh, chiều tối chúng mới về. Cho nên ông tránh khoảng thời gian (sáng từ 5 đến 6 giờ, chiều từ 4 giờ 30 cò bắt đầu về ngủ) để khai thác luồng. 

Vào những tháng cò đẻ, ông chỉ khai thác luồng ở ven quả đồi nhằm hạn chế ảnh hưởng đến đàn cò, nhất là cò non.

Vì cuộc sống mưu sinh mà ông đành cắn răng chấp nhận phá 1ha luồng để trồng mía kiếm thêm thu thập cho gia đình mình.

Chính vì bảo vệ đàn cò, đã không ít lần khiến ông phải đổ máu. Đó là vào khoảng thời gian từ năm 1997–1998, một số người dân ở vùng Xuân Thành, Thành Công vào săn, bắt cò. Cứ đêm xuống hoặc trưa nắng là họ lại vượt đồi vào vườn luồng dùng súng săn, súng cao su bắn hạ cò, rồi rung cây cho cò non rơi xuống. 

Ông kể: “Đêm ấy, tôi đang ngủ bỗng nghe trước nhà tiếng cò gọi nhau, oang oác như có người phá tổ”. Ngồi bật dậy, nhìn lên đồi thì có ánh đèn pin đang dọi, ông gọi các con và dân làng lên giúp. Khi mọi người kéo lên, nhóm người xấu mới rút về.

Tưởng mọi chuyện thế là xong, nhưng ngay trưa hôm đó, một toán khoảng 12 người lại tiếp tục vào săn bắt cò: “Lúc này, chỉ có mình tôi ở nhà, các con và dân làng đều ra đồng hết. Vội vàng, tôi vác theo một con dao phát rừng lên. Khi bước vào đồi thấy những thân cò non đang nằm dưới đất. Bố mẹ chúng đã chết bởi những phát súng của bọn săn”. 

Ông hét lên: “Không được bắt cò của tao”. Nhưng có tiếng người đáp lại: “Cò này là của thiên nhiên, không phải của nhà mày”. Ông lao vào giằng lấy súng của bọn chúng. Một đứa quát lên: “Đánh chết thằng già này đi”, ngay lập tức một tên trong nhóm đã dùng báng súng đánh vào đầu ông. “Tôi loạng choạng ngồi bịch xuống vườn cò, sờ tay lên trán thấy máu chảy đỏ cả bàn tay” - ông nhớ lại.

Không còn sức để chống cự lại bọn chúng, ông lấy chút sức còn, tìm chỗ cao hô lên to: “Các con ơi, nó đánh chết bố rồi”. Ông ở trên đồi nên tiếng hô vọng xa, nhờ vậy các con ông và dân làng đang cấy lúa ở các cánh đồng gần đó đã kịp thời chạy lên giải thoát cho ông. Nhưng sau vụ đó, ông cũng phải đi truyền nước ở trạm xá và nghỉ ngơi hàng tháng trời mới lại sức. 

Mấy tháng trời sau đó, bọn xấu lại vào phá vườn cò nhà ông. Ông ăn không ngon, ngủ không yên. Cứ hễ khi nào nghe tiếng ông kêu cứu, dân làng lại hò nhau: “Nó đánh chết ông Của rồi, dân làng ơi! Lên cứu ông Của thôi.” Khi dân làng kéo lên ông mới được giải thoát khỏi những tên săn cò.

Thương chồng, lo cho bố nên bao lần vợ con khuyên ông phá rừng luồng đi trồng mía cho hiệu quả cao, các con không phải lo nghèo nữa mà bố cũng không phải khổ sở vì nó, ông vẫn cương quyết không phá rừng. Bởi, “phá nó” đồng nghĩa với việc đàn cò mà ông chăm như con gần 20 năm nay sẽ ra đi. 

Ông còn kể chuyện khi con đường Hồ Chí Minh làm qua khu đất nhà ông, những quả mìn phá núi làm chấn động cả một vùng. Khoảng thời gian ấy, ông chỉ lo đàn cò sẽ rời ông ra đi. Nên cứ mỗi buổi chiều, ông lại ngửa mặt lên trời mong ngóng từng cánh cò bay về như những người bạn tri kỉ đợi nhau. Điều ấy khiến vợ con ông hiểu được ông yêu quý đến cò đến mức độ nào.
 

Đời người, phận cò…

Nhưng giờ đây, trước miếng cơm, manh áo, ông và gia đình đang lo cho sự tồn tại của đàn cò. Bà Bùi Thị Liên (vợ ông Của) xót xa: “Khi ông ấy quyết định phá bỏ 1 hecta rừng luồng để trồng mía, có đến cả tháng trời ông ấy không ngủ yên. Tôi cũng tiếc, nhưng khi để cả cánh rừng đây thì cái bụng nó đói, nên phải phá để kiếm mấy xe mía mà sống chú à”.

Chiều nào cũng thế, khu đồi nhà ông Của lại sáng rực lên bởi những cánh cò.

Còn ông, ông bảo, khi quyết định phá đi 1 hecta rừng đó có khác nào cắt đi một phần cơ thể của mình. Ông lo, rồi đây khi mình không còn nữa liệu con cháu có giữ được rừng cò không? Bởi để lại thì đói, hơn nữa phân cò thải ra rất hôi, nhất là khi trời nóng. 

Ông kể: “Nhiều hôm bữa cơm gia đình tôi ăn không ngon vì mùi phân hôi thối quá, con cháu cứ phải bê bát cơm đi ra ngoài đường lớn ăn. Chẳng những ăn không ngon mà ngủ cũng chẳng yên, buổi trưa mấy đứa cháu không có đứa nào muốn ngủ ở nhà cả. Nhìn cảnh đó nhiều khi tôi thấy mình có lỗi với con, với cháu”.

Một số cán bộ về hưu trong bản khuyên ông nên làm bản tường trình gửi lên Sở Tài nguyên - Môi trường của tỉnh phương pháp xử lý mùi phân cò. Nhưng gửi lâu mà chẳng thấy hồi âm nên ông chán không muốn gửi nữa tiếp nữa.

Nhiều lần, ông lên hỏi xã, được bảo: "Đang chờ ở trên quyết định. Đành biết vậy!” Ông cười buồn: “Mình giờ cũng già rồi, chẳng còn sức để chạy lên hết cấp này với cấp kia nữa”. 

Mặt trời đã lặn sau dãy núi, mắt ông đăm chiêu nhìn về một phương xa nào đó. Đột nhiên ông trầm tư: “Không biết khi tôi nằm xuống, vì đồng tiền bát gạo và với chuyện hôi thối từ phân cò… con cháu có chịu để vườn cò không?" Chúng tôi hiểu nỗi lòng của ông, gần hai mươi năm gắn bó với cò mà giờ đây ông không biết được sau khi mình nhắm mắt: Đàn cò sẽ bay về đâu?

  • Duy Thành – Văn Chung

,
Ý kiến của bạn
Ý kiến bạn đọc
,
,
,
,