Chồng mất, vợ ngoại tình nhiều năm trở về đòi chia tài sản

 - Cậu tôi vừa qua đời do tai nạn. Trước đó 2 năm, cậu mua bảo hiểm nhân thọ, người đứng tên là cậu nhưng tiền đóng là bà ngoại cho. Cậu tôi lấy vợ, đăng ký kết hôn đàng hoàng và có 3 người con chung nhưng cách đây 3 năm, vợ của cậu đã bỏ đi (trước khi mua bảo hiểm 1 năm) để chung sống với người đàn ông khác.

Nay cậu tôi mất, bên bảo hiểm đang làm thủ tục thanh toán thì người vợ này về đòi chia tài sản. Xin hỏi luật sư:

- Trước khi cậu mất có vay các anh chị em trong nhà một số tiền rất lớn. Vậy khi cậu mất thì làm thế nào để đòi số nợ đó?

- Ông bà cho cậu một mảnh đất nhưng chưa xây nhà, giấy tờ vẫn đứng tên ông bà. Vậy giờ mảnh đất đó có được tính là tài sản của cậu để lại không?

- Giấy đăng ký kết hôn của cậu ghi sai tên cậu, người vợ không có trong hộ khẩu gia đình. Vậy người đó có được xác nhận là vợ và có quyền đòi tài sản thừa kế không?

tư vấn pháp luật,di chúc,thừa kế,tài sản,bảo hiểm
Ảnh minh họa

Thứ nhất: Nghĩa vụ tài sản do người chết để lại.

Theo thông tin bạn cung cấp thì trước khi cậu mất có vay các anh chị em trong nhà một số tiền rất lớn. Nếu khoản vay có giấy tờ hoặc có căn cứ chứng minh thì khi cậu bạn mất, khoản nợ được coi là nghĩa vụ tài sản để lại. Việc thực hiện nghĩa vụ tài sản được những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý di sản thực hiện theo thỏa thuận của những người thừa kế trong phạm vi di sản do người chết để lại theo Điều 615 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về việc thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại:

“1. Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý di sản thực hiện theo thỏa thuận của những người thừa kế trong phạm vi di sản do người chết để lại.

3. Trường hợp di sản đã được chia, mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

4. Trường hợp người thừa kế không phải là cá nhân hưởng di sản theo di chúc thì cũng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như người thừa kế là cá nhân”.

Do đó, theo quy định trên, nếu di sản chưa được chia, người quản lý di sản thực hiện nghĩa vụ tài sản này theo thỏa thuận của những người thừa kế trong phạm vi di sản do người chết để lại. Theo đó, những người thừa kế của cậu bạn gồm: bố, mẹ, vợ, con. Những người này có trách nhiệm trả nợ cho cậu bạn trong phạm vi di sản thừa kế.

Trường hợp những người thừa kế không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, chủ nợ có quyền khởi kiện yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản mà người chết để lại. Lưu ý, theo quy định tại khoản 3 Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015, thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế (tức là từ thời điểm cậu bạn mất).

Thứ hai: Xác định di sản của cậu bạn để lại.

Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.Theo quy định tại Điều 459 Bộ luật dân sự  2015 về tặng cho bất động sản thì:

Điều 459. Tặng cho bất động sản

1. Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu theo quy định của luật.

2. Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản.

Thêm vào đó, khoản 1 Điều 168 Luật Đất đai quy định:

Điều 168. Thời điểm được thực hiện các quyền của người sử dụng đất

1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất khi có Giấy chứng nhận. Đối với trường hợp chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp thì người sử dụng đất được thực hiện quyền sau khi có quyết định giao đất, cho thuê đất; trường hợp nhận thừa kế quyền sử dụng đất thì người sử dụng đất được thực hiện quyền khi có Giấy chứng nhận hoặc đủ điều kiện để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Trường hợp người sử dụng đất được chậm thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc được ghi nợ nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện xong nghĩa vụ tài chính trước khi thực hiện các quyền.

Trường hợp này cậu bạn chưa làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất thì quyền sử dụng đất hiện nay vẫn thuộc về ông bà ngoại bạn. Vì vậy, quyền sử dụng đất và sở hữu nhà không phải là di sản thừa kế.

 

Thứ ba: Việc chia di sản thừa kế là hợp đồng bảo hiểm nhân thọ khi không để lại di chúc

Luật Hôn nhân gia đình 2014, Điều 66. Giải quyết tài sản của vợ chồng trong trường hợp một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết.

1. Khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì bên còn sống quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản.

2. Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế.

3. Trong trường hợp việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của vợ hoặc chồng còn sống, gia đình thì vợ, chồng còn sống có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế phân chia di sản theo quy định của Bộ luật dân sự.

4. Tài sản của vợ chồng trong kinh doanh được giải quyết theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này, trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy định khác.

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000 sửa đổi, bổ sung 2010 thì Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.

Theo đó khoản 8 Điều 3 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000 sửa đổi, bổ sung 2010 thì người thụ hưởng là tổ chức, cá nhân được bên mua bảo hiểm chỉ định để nhận tiền bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm con người. Người thụ hưởng được cậu bạn chỉ định trong Hợp đồng bảo hiểm sẽ là người được Công ty bảo hiểm chi trả tiền bồi thường.

Căn cứ theo quy định trên, người vợ chưa có quyết định ly hôn hoặc bản án ly hôn có hiệu lực vẫn được hưởng di sản thừa kế khi người chồng chết. Theo Bộ luật Dân sự 2015, Điều 655. Người đang là vợ hoặc chồng của một người tại thời điểm người đó chết thì dù sau đó đã kết hôn với người khác vẫn được thừa kế di sản. Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế. Theo đó phần tài sản của người chồng để lại trong đó có hợp đồng bảo hiểm nhân thọ được chia theo quy định hàng thừa kế gồm: vợ, con, bố mẹ, mỗi người được hưởng phần bằng nhau. Thủ tục nhận tiền bảo hiểm, hàng thừa kế liên hệ với công ty bảo hiểm để được hướng dẫn chi tiết.

Thông tin bạn hỏi Giấy đăng ký kết hôn của cậu ghi sai tên cậu, người vợ không có trong hộ khẩu gia đình.

Khi giấy tờ hộ tịch bị sai thì cần cải chính thông tin theo quy định tại Điều 7 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật hộ tịch năm 2014 quy định điều kiện thay đổi, cải chính hộ tịch như sau:

“Điều 7. Điều kiện thay đổi, cải chính hộ tịch

1. Việc thay đổi họ, chữ đệm, tên cho người dưới 18 tuổi theo quy định tại Khoản 1 Điều 26 của Luật Hộ tịch phải có sự đồng ý của cha, mẹ người đó và được thể hiện rõ trong Tờ khai; đối với người từ đủ 9 tuổi trở lên thi còn phải có sự đồng ý của người đó.

2. Cải chính hộ tịch theo quy định của Luật Hộ tịch là việc chỉnh sửa thông tin cá nhân trong Sổ hộ tịch hoặc trong bản chính giấy tờ hộ tịch và chỉ được thực hiện khi có đủ căn cứ để xác định có sai sót do lỗi của công chức làm công tác hộ tịch hoặc của người yêu cầu đăng ký hộ tịch.”

Theo đó, Điều 28 Luật Hộ tịch 2014 quy định thủ tục cải chính hộ tịch như sau:

1. Người yêu cầu đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy tờ liên quan cho cơ quan đăng ký hộ tịch.

2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy việc thay đổi, cải chính hộ tịch là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật dân sự và pháp luật có liên quan, công chức tư pháp - hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch, cùng người yêu cầu đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch ký vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu.

Trường hợp thay đổi, cải chính hộ tịch liên quan đến Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn thì công chức tư pháp - hộ tịch ghi nội dung thay đổi, cải chính hộ tịch vào Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn.

Trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 03 ngày làm việc.

3. Trường hợp đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch không phải tại nơi đăng ký hộ tịch trước đây thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao trích lục hộ tịch đến Ủy ban nhân dân nơi đăng ký hộ tịch trước đây để ghi vào Sổ hộ tịch.

Trường hợp nơi đăng ký hộ tịch trước đây là Cơ quan đại diện thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao trích lục hộ tịch đến Bộ Ngoại giao để chuyển đến Cơ quan đại diện ghi vào Sổ hộ tịch.

Theo đó, vợ của cậu bạn mang các giấy tờ như Giấy khai sinh, Chứng minh thư, Sổ hộ khẩu gia đình để làm căn cứ chứng minh họ tên của cậu bạn để được cải chính lại thông tin trong Giấy chứng nhận kết hôn. 

Luật sư Phạm Thị  Bích Hảo, Giám đốc Công ty luật TNHH Đức An, Thanh Xuân, HN

Bạn đọc muốn gửi các câu hỏi thắc mắc về các vấn đề pháp luật, xin gửi về địa chỉ banbandoc@vietnamnet.vn (Xin ghi rõ địa chỉ, số điện thoại để chúng tôi tiện liên hệ)

Ban Bạn đọc