Chìa khóa bền vững hóa giải những thách thức của ĐBSCL

 - Phải coi lũ như một chìa khóa bền vững để hóa giải những thách thức của ĐBSCL - nguyên Vụ trưởng Vụ Kế hoạch, Bộ Thủy lợi; nguyên Cục trưởng Cục Đê điều và phòng chống lụt bão, Bộ NN&PTNT Nguyễn Ty Niên nói.

Buổi mở cõi, cha ông ta gọi lũ lụt ĐBSCL là mùa nước nổi, cư dân còn thưa thớt, cứ bám theo những giồng đất cao ven sông do phù sa sông Tiền, sông Hậu bồi đắp để cày cấy, đến mùa nước nổi cùng với cá tôm và lúa nổi theo nước; sống hòa thuận với quy luật của trời đất.

ĐBSCL, phát triển bền vững, quy hoạch vùng, ngập mặn, biến đổi khí hậu
Ông Nguyễn Ty Niên. Ảnh: Kiên Trung

Nửa đầu thế kỷ 20, thực dân Pháp khai phá ĐBSCL, đào kênh để tiêu thoát nước mở đất sản xuất thích nghi theo mùa nước để vùng cao làm một vụ lúa mùa, vùng ngập làm một vụ lúa nổi. Những giải pháp mà các chuyên gia thủy lợi Pháp lựa chọn vẫn là lợi dụng đặc thù của lũ.

Tiến xa hơn nữa thì vấp phải hai trở ngại lớn là ngập lụt kéo dài gần 5 tháng và hàng triệu ha đất chua phèn nặng và đất nhiễm phèn mặn, gần như bó tay không giải quyết được.

Các nghiên cứu trước năm 1975 của Ủy ban sông Mekong, ĐBSCL có thể thâm canh 32 vạn ha đến 1,3 triệu ha dựa trên cơ sở cơ bản làm các hồ chứa lớn ở thượng nguồn là Pơ mông (Lào) và Stung Treng (Campuchia) với dung tích 100 - 160 tỷ m3 nước để hạn chế ngập lụt, cấp nước mùa khô, lên đê phòng lũ. 

Tuy nhiên, phương án đó là bất khả thi nên nghiên cứu phát triển ĐBSCL của Hà Lan đã chọn cách tiếp cận không dựa vào các hồ chứa lớn ở thượng nguồn mà tìm giải pháp từ nội tại, không chủ trương chống lũ triệt để, tranh thủ tránh lũ, khoanh vùng tránh lũ cho vùng ngập nông để tăng vụ, nhưng phải đảm bảo nguồn nước tưới, tưới tiêu tách rời và bón vôi cải tạo đất mặt, ngăn chua từ nơi khác đến, các vùng ngập sâu và chua phèn nặng Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên chưa thể khai thác.

Sau năm 1975, tuy đã có kinh nghiệm và trưởng thành trong quá trình làm quy hoạch trị thủy và khai thác sông Hồng nhưng khi tiếp cận vào ĐBSCL là một thử thách về khoa học trị thủy rất đặc thù mà đội ngũ khoa học thủy lợi chưa từng trải qua. Chọn lọc các nghiên cứu trên, buổi đầu chúng ta vẫn xem lũ là trở ngại chính cho phát triển và đi theo hướng cải tạo đất phèn và xây dựng các trạm bơm tưới nhưng thực tiễn sản xuất gần như chối bỏ, bởi chưa hiểu thấu đáo môi trường ngập lụt, vận động của thủy triều và cải tạo 1,9 triệu ha đất chua phèn nặng và 0,7 triệu ha đất phèn mặn ở một đồng bằng thấp lại bằng phẳng (dưới cốt 1) là những câu hỏi lớn mà chưa tìm được lời giải.

Thực tiễn cho chúng ta ngày càng nhận rõ đặc thù địa lý nhân văn ĐBSCL: nguồn nước dồi dào (gần 500 tỷ m3 nước) tập trung vào mùa lũ kéo dài đến 5 tháng nhưng 85-90% tổng lượng lũ chảy theo dòng chính sông Tiền, sông Hậu còn lại 10-15% lượng lũ tràn bờ, thủy triều biển Đông vận động mạnh, đồng bằng thấp, đất chua phèn và mặn, lại nằm trong vùng thời tiết nóng ẩm quanh năm; Nguồn nhân lực năng động sáng tạo, nhạy bén với cái mới, thuận quy luật. Đó là các tác nhân hữu cơ và tất yếu tạo nên hình thái đặc sắc để thích nghi và phát triển ĐBSCL.

Những năm 80 của thế kỷ trước, các nghiên cứu khoa học bước đầu và thực tiễn sản xuất dần hé lộ khả năng sử dụng đất phèn thay vì cải tạo đất phèn, đó là bước ngoặt có tầm quyết định, mở hướng đột phá để lợi dụng lũ tiêu thoát chua phèn và ém phèn, bao bờ chống lũ đầu mùa và lũ tháng 8 ở ngay cả vùng ngập sâu, mở nút cho những sáng tạo khoa học độc đáo của Việt nam.

Các nhà khoa học thủy lợi đã giải được bài toán lũ tràn ĐBSCL với mạng lưới sông ngòi vô cùng phức tạp và các tác động của thủy triều.

ĐBSCL, phát triển bền vững, quy hoạch vùng, ngập mặn, biến đổi khí hậu
Hàng rào ngăn mặn ở Kiên Giang
 

Thành công của kênh Hồng Ngự xuyên thẳng vào trung tâm Đồng Tháp Mười dùng lũ đẩy túi phèn lưu cữu và kéo nước ngọt về ém phèn, cùng với việc đan dày hệ thống kênh tiêu thoát lũ vùng Tây sông Hậu để phá thế lúa nổi, cũng như hệ thống cống tự động ngăn mặn giữ ngọt tiêu thoát lũ và tiêu chua vùng mặn linh hoạt đã tạo nên bước đột phá những năm 90 của thế kỷ trước, đưa sản lượng lúa trên 15 triệu tấn và đến nay đạt trên 25 triệu tấn. 

Từ xem lũ là trở ngại lớn đến "sống chung với lũ" đã được kiểm nghiệm thành công. Quyết định 99/TTg của Chính phủ xây dựng các tuyến cụm dân cư vượt lũ ĐBSCL là bước ngoặt về an sinh xã hội ở ĐBSCL trong môi trường lũ.

Những năm đầu thế kỷ này, các công trình kiểm soát lũ, ngăn và xả lũ ở tứ giác Long Xuyên (Tha La, Trà Sư), đê bao vượt lũ các thị trấn, các quốc lộ vượt lũ ven sông Tiền sông Hậu (QL 30,54, 91) băng qua trung tâm Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên có các QLN1, N2, 80, đặc biệt hệ thống đê bao vận hành hai chiều vừa vượt lũ vừa chứa lũ lên đến 21.000 km và 17.000 km đê bao lửng, khoanh trên 4500 ô có quy mô vài trăm đến cả ngàn ha, đảm bảo ăn chắc vụ lúa hè thu và mở thêm vụ lúa thu đông, trữ nước vụ đông xuân.

Hệ thống thủy lợi ĐBSCL (bao gồm cả bờ bao và đê bao vượt lũ) là một hệ thống mở có sự tương tác toàn vùng để tạo ra một môi trường nước tổng thể nối mùa lũ với mùa khô hạn và xâm nhập mặn mà lũ, nguồn nước Mekong và động lực thủy triều như khối óc, trái tim điều khiển toàn bộ sự sống của ĐBSCL, mạng lưới kênh rạch là mạch máu và thành mạch là hệ thống đê bao, bờ bao, các cống tự động vừa ngăn mặn, giữ ngọt bài tiết chua phèn, sự vận động đó tuần hoàn như cơ thể sống, chưa thấy mâu thuẫn và cạnh tranh giữa các vùng.

Biến đổi khí hậu, nước biển dâng và phát triển thủy điện, khai thác tài nguyên nước ở các nước thượng nguồn Mekong đang đặt ra những thách thức lớn với ĐBSCL. Nổi lên là vấn đề xâm nhập mặn và sạt lở sông biển, nhưng cần nhìn nhận tổng thể quy luật vận động của tự nhiên cũng như sự cực đoan của biến đổi khí hậu và các tác động do con người gây ra để có các giải pháp phù hợp. Năm 2016 xâm nhập mặn gay gắt nhưng năm 2017 tình hình dịu đi nhiều, mấy năm trước đồng bằng đói lũ, năm nay lũ về sớm và có khả năng trên mức trung bình.

ĐBSCL đang phải đối phó với những thách thức nặng nề nêu trên. Nhưng thật may mắn chúng ta lại có một mùa lũ kéo dài ngày, có 8 tháng - từ tháng 6 đến tháng 1 năm sau, sông Mekong cuối mùa lũ còn có lưu lượng đến 8000 m3/s, đó là chìa khóa cho chúng ta hóa giải để ĐBSCL thích nghi bền vững trước biến đổi khí hậu và khai thác tài nguyên nước ở các nước thượng nguồn sông Mekong.

Hội nghị của Thủ tướng về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với BĐKH

Hội nghị của Thủ tướng về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với BĐKH

Trong hai ngày 26-27/9, một Hội nghị về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu sẽ diễn ra tại Cần Thơ. 

Quyết sách cho sự ‘sống-còn’ của ĐBSCL

Quyết sách cho sự ‘sống-còn’ của ĐBSCL

Các quyết sách, chuyển đổi lớn vùng đồng bằng sông Cửu Long phải trên cơ sở phát huy vai trò trung tâm của người dân.

Cuối tháng 4, cơ bản ĐBSCL hết hạn mặn

Cuối tháng 4, cơ bản ĐBSCL hết hạn mặn

Nếu Trung Quốc xả nước ở thượng nguồn sông Mekong theo đúng kế hoạch thì đến cuối tháng 4, về cơ bản tình trạng hạn mặn ở ĐBSCL sẽ được giải quyết.

Nước về ĐBSCL theo quy luật tự nhiên

Nước về ĐBSCL theo quy luật tự nhiên

Nước bắt đầu đổ về ĐBSCL theo quy luật tự nhiên. Lượng nước từ thượng nguồn sông Mekong đổ về Việt Nam được xem là ổn định hơn và sẽ có đẩy mặn từ 7/4 trở đi.

11 đập thủy điện dồn đại họa cho ĐBSCL

11 đập thủy điện dồn đại họa cho ĐBSCL

Trong khi hạn, mặn chưa kịp khắc phục, các chuyên gia lo ngại 11 dự án thủy điện ở hạ lưu sông Mekong của Lào và Campuchia sẽ khiến ĐBSCL gặp “đại họa”.

Nguyễn Ty Niên