- Do không chứng minh được việc đã tất toán cho khách nhưng quên thu lại sổ tiết kiệm, một ngân hàng thua kiện phải thanh toán cho khách giá trị sổ tiết kiệm trị hơn 70.000 USD.

Ngày 14/7, TAND TP.HCM đã tiếp tục phiên tòa xét xử, tuyên án vụ kiện tranh chấp trong lĩnh vực tín dụng giữa nguyên đơn là bà N.T.T.(SN 1953, ngụ Đà Nẵng) và bị đơn là ngân hàng X. có trụ sở tại quận 1 (TP.HCM).

Tất toán quên thu sổ tiết kiệm?

Theo đơn khởi kiện, phía nguyên đơn trình bày: bà N.T.T.là khách hàng thường xuyên giao dịch tại ngân hàng X. Quá trình giao dịch, đến thời điểm xảy ra tranh chấp bà có 2 sổ tiết kiệm bằng ngoại tệ tại ngân hàng.

Sổ tiết kiệm thứ nhất mang số 1500012503 (gọi tắt là sổ 503) ngày 26/8/2010 trị giá 70.000 USD. Sổ tiết kiệm thứ hai có số 150100026037(gọi tắt là sổ 037) gửi ngày 29/1/2011, số tiền gốc 70.895,81 USD. Hai sổ trên đều được giao dịch tại chi nhánh Đà Nẵng.

Ngày 26/5/2011, bà T. mang theo sổ tiết kiệm 503 đến ngân hàng trên để rút tiền lãi và một phần gốc của sổ này thì ngân hàng từ chối. Phía ngân hàng cho rằng sổ này đã tất toán với bà T. vào ngày 29/1/2011, toàn bộ số tiền gốc và lãi đã được chuyển sang lập sổ mới chính là sổ 037.

Không đồng ý, bà T. đã khiếu nại sau đó khởi kiện ra tòa yêu cầu ngân hàng trả toàn bộ gốc và lãi của sổ tiết kiệm 503 với số tiền tạm tính là 74.846 USD.

Trả lời khiếu nại của bà T. cũng như phần xét hỏi tại tòa, phía ngân hàng khai bà T. đúng là khách hàng quen của ngân hàng và có hai sổ tiết kiệm trên.

Tuy nhiên, hai sổ tiết kiệm trên không phải là bà T. mở song song mà bà đã mở sổ 503 vào ngày 26/8/2010 trị giá 70.000 USD. Đến ngày 29/1/2011, bà đã tất toán sổ 503 sau đó chuyển toàn bộ số tiền theo hình thức chuyển khoản sang mở sổ mới là sổ 037 để tham gia chương trình Lộc Xuân.

{keywords}
Thua kiện, ngân hàng phải trả cho khách hơn 70.000 USD (hình minh họa) 

Về việc bà T. vẫn còn giữ sổ tiết kiệm trên, phía ngân hàng giải thích là do sai sót nhân viên quên thu hồi lại sổ tiết kiệm số 503.

Ngoài ra, vào thời gian trên, ngân hàng bắt đầu thử áp dụng một chương trình mới nên việc tất toán, chuyển khoản lưu trong hệ thống không có chữ ký của khách hàng. Do đó, ngân hàng đề nghị HĐXX bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ngân hàng thua kiện...

Tại phiên tòa phúc thẩm, trình bày lý do kháng cáo, đại diện ngân hàng giữ nguyên yêu cầu đề nghị tòa tuyên bác yêu cầu khởi kiện của bà T. Đại diện VKSND TP.HCM cũng giữ nguyên yêu cầu kháng nghị đề nghị bác yêu cầu của bà T. vì bà không chứng minh được nguồn gốc số tiền bà gửi vào sổ tiết kiệm mới 037.

Đại diện ngân hàng khẳng định, mặc dù chứng từ lưu giữ tại ngân hàng về việc tất toán sổ tiết kiệm 503 không có chữ ký của bà T. là do ngân hàng đang áp dụng chạy một chương trình mới trên máy tính nên không có chữ ký của khách hàng.

Việc bà T. vẫn còn giữ sổ tiết kiệm vì ngân hàng đã sai sót vì không thu hồi lại sổ nhưng số tiền gốc trong sổ 037 được lập ngày 29/1/2011 trùng khớp tới từng số lẻ cụ thể là 70.895,81 USD.

Con số này hoàn toàn trùng khớp với tổng số tiền gốc và lãi mà bà T. đã nhận sau khi tất toán sổ 503 đồng thời cũng trùng khớp với số tiền ghi trong chứng từ tất toán có chữ ký của hai nhân viên ngân hàng. Điều đó chứng tỏ nguồn gốc số tiền của sổ tiết kiệm 037 là từ sổ tiết kiệm 503.

Ngay sau đó, lập luận trên của ngân hàng và Viện kiểm sát bị đại diện nguyên đơn bác bỏ. Theo phía nguyên đơn, từ trước tới nay việc tất toán sổ tiết kiệm luôn phải có chữ ký của khách hàng để làm chứng cứ lưu giữ trong ngân hàng.

Tuy nhiên, trong chứng từ lưu của ngân hàng thì phiếu chuyển khoản tất toán sổ tiết kiệm số 503 chỉ có chữ ký của nhân viên ngân hàng mà không có chữ ký khách hàng trong khi khách hàng đang giữ sổ tiết kiệm.

Ngoài ra, sau ngày 29/1/2013 (ngày mở sổ 037) thì sổ 503 còn hai lần được gia hạn và được xác nhận ngay trong sổ tiết kiệm này. Nếu đã tất toán sao có thể tiếp tục gia hạn ? Lý giải về việc này, ngân hàng tiếp tục giải thích là do nhầm lẫn vì tin tưởng vào khách hàng quen. Ngoài những lý lẽ trên, phía nguyên đơn không đưa ra được chứng cứ mới.

Sau khi nghị án, HĐXX nhận định nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự trong vụ án. Tại phiên tòa phúc thẩm, phía nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đưa ra được chứng cứ là sổ tiết kiệm 503 có xác nhận gia hạn của ngân hàng. Ngược lại, phía bị đơn không xuất trình được chứng cứ chứng minh việc đã tất toán sổ tiết kiệm 503 trên nên phải chịu hậu quả pháp lý. Bà T. không có nghĩa vụ chứng minh nguồn gốc số tiền gửi tiết kiệm.

Từ đó, tòa tuyên không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát, bác yêu cầu kháng cáo của bị đơn, tuyên buộc ngân hàng X. phải trả cho bà N.T.T. trị giá sổ tiết kiệm 503 là số tiền 70.895,81 USD và toàn bộ lãi suất theo quy định.

M.Phượng