Báo điện tử chính thống hàng đầu Việt Nam

Anh ngoại tình nhưng dọa tôi nếu ly hôn phải ra đi "tay trắng"

 - Vợ chồng tôi cưới nhau được 10 năm. Trong suốt 10 năm đó, tôi chấp nhận làm một công việc nhàn với mức lương thấp, chỉ 2 triệu đồng/tháng dù có khả năng kiếm nhiều hơn, để toàn tâm toàn ý chăm lo cho gia đình. Cũng vì thế mà tôi không có tiền để dành. Nhà cửa, xe cộ đều do chồng tôi kiếm được và đứng tên sở hữu của anh.

Tuy nhiên gần đây, tôi phát hiện ra chồng mình ngoại tình. Anh ta nói nếu tôi ly hôn thì sẽ không được hưởng bất kì một thứ gì, toàn bộ là tài sản riêng do anh ta làm ra. Tôi rất bức xúc vì nếu không có tôi giúp đỡ, liệu chồng tôi có làm được những thứ đó.

Tôi muốn hỏi nếu hiện giờ ly hôn, tôi giành quyền nuôi con (một cháu 8 tuổi và một cháu 5 tuổi) thì chồng tôi có trợ cấp cho chúng không? Tài sản giữa chúng tôi phát sinh trong quá trình kết hôn có được coi là tài sản chung không?

Anh ngoại tình nhưng dọa tôi nếu ly hôn phải ra đi 'tay trắng'
Anh dọa tôi nếu ly hôn sẽ không được hưởng bất kỳ tài sản gì (Ảnh minh họa)

Theo thông tin bạn cung cấp, chúng tôi tư vấn như sau

Thứ nhất: Về tài sản

Theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn Nhân và Gia Đình thì:

"1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

Mặt khác, theo quy định tại Điều 59 Luật Hôn Nhân và Gia Đình về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn thì

 

"2.Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch."

Áp dụng các quy định trên, nếu như vợ chồng bạn không có thoả thuận khác thì tất cả những tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân đều được xác định là tài sản chung của vợ chồng. Trong trường hợp chồng bạn không đồng ý phân chia khối tài sản này, bạn có quyền yêu cầu toà án giải quyết theo quy định pháp luật.

Thứ hai: Về con cái.

Theo quy định tại điều 81 Luật Hôn Nhân và Gia Đình về việc trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn thì:

"Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con."

Mặt khác, theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn Nhân và Gia Đình thì cha mẹ không trực tiếp nuôi con sau ly hôn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

Mức cấp dưỡng và hình thức cấp dưỡng sẽ do toà án quyết định nếu như các bên không tự thoả thuận.

Tư vấn bởi Luật sư Hoàng Tuấn Anh; Công ty Luật Themis; SĐT: 0986663459

Bạn đọc muốn gửi các câu hỏi thắc mắc về các vấn đề pháp luật, xin gửi về địa chỉ banbandoc@vietnamnet.vn (Xin ghi rõ địa chỉ, số điện thoại để chúng tôi tiện liên hệ)

Ban Bạn đọc

 
 
 

Tin liên quan