Báo điện tử chính thống hàng đầu Việt Nam

Có thể lập di chúc định đoạt việc chôn cất?

 - Bố tôi đã mất được gần ba năm nay, khi mất có để lại di chúc. Trong di chúc bố tôi có ghi rõ rằng mọi công việc của bố tôi là để cho tôi giải quyết. 

Nhà tôi có năm anh chị em, tôi là con út, trên tôi còn ba chị gái và một anh trai. Do bố con không hợp nên bố tôi không muốn anh trai tôi phải lo toan chuyện cho ông.

Nay bố tôi gần đến ngày sang mộ mà ý nguyện của ông là muốn được mồ yên mả đẹp ở quê, trong khi hiện tại ông đang chôn ở một nơi khác. Thế nhưng anh trai tôi lại không đồng ý đưa ông về quê, nói rằng di chúc của ông chỉ có thể chỉ định chia tài sản, không chỉ định việc chôn cất.

Vậy xin hỏi tôi có thể căn cứ vào di chúc để đưa bố tôi về quê chôn cất hay không?

Có thể lập di chúc định đoạt việc chôn cất?
Cha tôi có quyền định đoạn việc chôn cất ông trong di chúc? (Ảnh minh họa)

Thời điểm bố bạn để lại di chúc khoảng năm 2014, vì vậy áp dụng quy định tại Bộ luật Dân sự 2005. Đối với cá nhân người để lại tài sản, với tư cách là chủ sở hữu hợp pháp đối với những tài sản của mình, cá nhân có quyền lập di chúc để thực hiện quyền định đoạt tài sản của bản thân. Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân trong việc định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của họ trước khi chết.

Theo quy định tại Điều 648 Bộ luật dân sự thì, người lập di chúc có các quyền sau đây:

1. Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế;

2. Phân định phần di sản cho từng người thừa kế;

3. Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng;

4. Giao nghĩa vụ cho người thừa kế;

5. Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.

 

Theo quy định tại Điều 646 Bộ luật Dân sự 2005 thì Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.

Theo đó, di chúc hợp pháp căn cứ quy định tại Điều 652 Bộ luật này, cụ thể:

Điều 652. Di chúc hợp pháp

1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;

b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực.

Theo đó, nếu di chúc bố bạn để lại là hợp pháp thì vấn đề chôn cất cũng được thực hiện theo di chúc đó.

Luật sư Phạm Thị Bích Hảo, Giám đốc Công ty luật TNHH Đức An, Thanh Xuân, Hà Nội.

Bạn đọc muốn gửi các câu hỏi thắc mắc về các vấn đề pháp luật, xin gửi về địa chỉ banbandoc@vietnamnet.vn (Xin ghi rõ địa chỉ, số điện thoại để chúng tôi tiện liên hệ)

Ban Bạn đọc

 
 
 

Tin liên quan