Công ty bỗng nhiên cho thôi việc: người lao động bất lực

 - Tôi đi làm công nhân cho công ty A được 4 tháng (đã gồm 2 tháng thử việc). Tới tháng thứ 4, công ty đề nghị tôi thôi việc nhưng lại không có văn bản chính thức, chỉ nói với quản lý trực tiếp của tôi và từ quản lý nói xuống tôi. Phía công ty cũng không đưa ra bất kì lý do nào khi muốn chấm dứt hợp đồng với tôi.

Tôi đã gặp phía lãnh đạo công ty và đề nghị họ đưa ra lý do hoặc đền bù theo thỏa thuận hợp đồng, nhưng họ nói họ đã báo trước cho tôi trước 30 ngày nên không phạm luật, trong khi họ ko có bất kì văn bản nào như vậy, chỉ nói qua miệng.

Xin hỏi luật sư ở trường hợp của tôi, theo hợp đồng và luật thì việc làm của công ty A có đúng không? Tôi có được đền bù theo hợp đồng hay không? Nếu như hai bên ko thỏa thuận được, bên công ty cũng ko giải quyết cho tôi thì tôi có thể khiếu kiện công ty được không?

Công ty bỗng nhiên cho thôi việc: người lao động bất lực
Ảnh minh họa

Căn cứ tại Điều 38 Bộ luật lao động 2012, người sử dụng lao động được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn với người lao động trong các trường hợp sau:

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;

 

Nếu không thuộc các trường hợp trên thì người sử dụng lao động sẽ không được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động. 

Theo đó, khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì người sử dụng lao động sẽ phải tuân theo quy định tại Điều 38, Điều 39 Bộ luật lao động 2012. Trường hợp không tuân theo đúng những quy định trên, người sử dụng lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Trong trường hợp này, nghĩa vụ của người sử dụng lao động sẽ được áp dụng theo Điều 42 Bộ luật lao động 2012:

1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước”.

Theo thông tin bạn cung cấp, nếu công ty chấm dứt hợp đồng lao động với bạn không đúng với quy định của pháp luật nêu trên thì bạn có quyền khiếu nại với lãnh đạo công ty. Nếu việc khiếu nại chưa được được giải quyết bạn có thể đề nghị Hòa giải viên cơ quan lao động cấp quận, huyện giải quyết.

Luật sư Phạm Thị Bích Hảo, Giám đốc Công ty luật TNHH Đức An, Thanh Xuân, HN

Bạn đọc muốn gửi các câu hỏi thắc mắc về các vấn đề pháp luật, xin gửi về địa chỉ banbandoc@vietnamnet.vn (Xin ghi rõ địa chỉ, số điện thoại để chúng tôi tiện liên hệ)

Ban Bạn đọc

Chấm dứt HĐLĐ với lao động nữ nghỉ thai sản

Chấm dứt HĐLĐ với lao động nữ nghỉ thai sản

Em là nhân viên hợp đồng công nhật thuộc loại hợp đồng không xác định thời hạn. Sau khi em nghỉ thai sản 06 tháng, khi trở lại làm việc thì cơ quan ra thông báo cho nghỉ việc.

Chưa có bảo hiểm, tai nạn lao động có được bồi thường?

Chưa có bảo hiểm, tai nạn lao động có được bồi thường?

Chồng em làm trong công ty không may xảy ra tai nạn nhưng chưa có bảo hiểm, công ty có bồi thường nhưng vợ chồng em có 2 con nhỏ mới 8 tuổi và 2 tuổi. Vậy công ty có hỗ trợ cho con em không ạ?

Nghỉ việc trước khi sinh, lao động nữ có được hưởng chế độ thai sản?

Nghỉ việc trước khi sinh, lao động nữ có được hưởng chế độ thai sản?

Em đóng bảo hiểm từ 30/4/2017 đến 30/3/2018, xin nghỉ việc bắt đầu 1/4/2018. E mang thai được gần 4 tháng, dự sinh ngày 27/9/2018. Vậy e có được hưởng chế độ thai sản không? Và cần làm những thủ tục gì?