Ngoài các phát ngôn từ nhiều cấp khác nhau của Chính phủ Trung Quốc, việc huy động gần như hàng ngày các tàu Trung Quốc tới đây chứng tỏ Bắc Kinh chưa định giảm sự hiện diện của mình - điều vốn có thể được hiểu là rút bớt các yêu sách của họ.

>> Phần 1: Tranh chấp lãnh thổ Nhật - Trung: Xung đột có bùng phát?

Còn Tokyo coi các vụ xâm phạm gần vùng biển của mình như vậy là các hành động khiêu khích cực độ, và cho rằng Trung Quốc có ý định định nghĩa lại khái niệm về "quyền kiểm soát hành chính" đối các hòn đảo, vốn là nền tảng cam kết an ninh của Mỹ đối với Nhật Bản.

Điều cốt yếu là Chính phủ Nhật Bản cho rằng Bắc Kinh đang có ý định chứng tỏ quyền kiểm soát thực tế hoặc ít nhất là tương đương đối với quần đảo trên (bằng cách đòi "trục xuất" các tàu Nhật Bản ra khỏi vùng biển xung quanh Senkakus) để xóa bỏ cách hiểu của Mỹ rằng mọi lãnh thổ mà Nhật Bản kiểm soát hành chính đều thuộc sự điều chỉnh của điều 5 hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật.

Dường như ông Tập Cận Bình ủng hộ chính sách hiện nay là thách thức yêu sách của Nhật Bản, hoặc ít nhất không đề xuất một cách tiếp cận khác làm hài lòng ban lãnh đạo Trung Quốc. Ngay cả một sự vượt trội về ngoại giao của tân Thủ tướng Nhật Bản, nếu có thể, cũng sẽ không dẫn tới bất cứ thỏa thuận nào để ông Tập Cận Bình có thể đưa ra cơ quan lãnh đạo tối cao của Trung Quốc - Ủy ban thường vụ Đảng Cộng sản - đặc biệt nếu ông tin rằng Trung Quốc đang từ từ làm nhụt chí của lực lượng quốc phòng Nhật Bản hoặc gây ra một phản ứng dữ dội trong nước chống lại Tokyo. Điều này rất có thể là một sự hiểu nhầm mong muốn và chiến lược của Nhật Bản, nhưng ít nhất nó cũng có nghĩa là chính sách thử thách Nhật Bản hiện nay sẽ tiếp tục.

Vì vậy, chính sách cuối cùng của Trung Quốc về Điếu Ngư và Nhật Bản sẽ có thể được định hình bởi quan hệ giữa ông Tập Cận Bình với quân đội. Khác với Chủ tịch Hồ Cẩm Đào, người lần đầu tiên trong hai năm tại vị đã phải đấu  với ông Giang Trạch Dân để làm Chủ tịch Quân ủy Trung ương (cơ quan quản lý Quân giải phóng nhân dân  - PLA), ông Tập Cận Bình đã lãnh đạo cả đảng và quân đội. Ngoài ra, ông Tập Cận Bình còn có một số kinh nghiệm phục vụ trong PLA: ông từng là thư ký riêng của một cựu Bộ trưởng Quốc phòng đầu những năm 1980 và nắm giữ các vị trí trong quân đội tại Nam Kinh, Phúc Kiến và Phúc Châu. Các kinh nghiệm này có thể giúp giảm căng thẳng giữa ông với PLA, và có thể giúp các quan chức quân sự cấp cao thân cận với ông thăng tiến.

Nhìn vào quan điểm cứng rắn của PLA đối với Nhật Bản, và sự mở rộng các hoạt động của hải quân và không quân tại biển Hoa Đông, dường như ít khả năng ông Tập Cận Bình sẽ thách thức ban lãnh đạo quân sự và thay đổi căn bản sự hiện diện an ninh của Trung Quốc gần quần đảo Điếu Ngư. Thay vì thế, ông có thể sẽ ủng hộ PLA và mở rộng phạm vi nhiệm vụ của lực lượng này tại các vùng biển mà Trung Quốc đang tranh chấp, trong đó có biển Hoa Đông, chừng nào đó không phải là một động thái khinh suất gây ra xung đột hoặc khiến Mỹ tỏ ra tích cực hơn. Thành công trong việc duy trì sức ép với Nhật Bản và tỏ ra sát cánh với PLA cũng có thể bảo vệ ông Tập Cận Bình khỏi bất kỳ đối thủ tiềm năng nào tìm cách làm suy yếu ông bằng cách giành sự ủng hộ của quân đội.

Tất cả những điều trên khiến người ta ít tiên đoán về một sự giảm căng thẳng với Nhật Bản, ngay cả khi chính sách xâm nhập biển của Trung Quốc đối với Senkakus/Điếu Ngư không hề dẫn tới việc khiến Tokyo từ bỏ yêu sách của mình.

Thật không may, có rất ít lực lượng đối trọng tích cực trong quan hệ Trung - Nhật để hóa giải các căng thẳng liên quan đến quần đảo trên. Thương mại giữa hai nước đã sụt giảm do các cuộc biểu tình chống Nhật tại Trung Quốc; việc Nhật Bản tính đến tham gia TPP càng khiến Trung Quốc điên máu vì cảm thấy bị gạt ra ngoài lề các cuộc thương lượng; và có ít sáng kiến ngoại giao chung giữa hai nước, như bàn đàm phán sáu bên về Triều Tiên hay cái gì đó liên quan đến Hội nghị Đông Á, một diễn đàn với sự tham gia của lãnh đạo gần 20 quốc gia.

Bắc Kinh cũng tiếp tục thử thách và cô lập Nhật Bản trong khu vực, từ đó kiềm chế trung tâm quyền lực tiềm năng khác tại Đông Á. Hơn nữa, trong khi Nhật Bản sẽ là một phần quan trọng trong bức tranh kinh tế Trung Quốc trong phần còn lại của thập kỷ này, các lãnh đạo Trung Quốc đã tính toán rằng Nhật Bản sẽ phải chịu đựng hậu quả của suy thoái kinh tế và quan hệ giảm sút nhiều hơn là phía Trung Quốc phải chịu, có thể làm gia tăng thái độ sẵn sàng đẩy Nhật Bản tới phản ứng cứng rắn hơn về Senkakus.

Cũng ít khả năng Nhật Bản có thể gia tăng vị thế của mình ở bên ngoài. Bất kỳ sự yếu kém nào trong việc bảo vệ các hòn đảo này sẽ chỉ khuyến khích Trung Quốc, nhưng Tokyo cũng khôn khéo khi kích động các quan điểm "đối trọng ngang hàng" với Trung Quốc, như một quan chức cấp cao Philippines gợi ý đầu tháng 12. Ý tưởng này không chỉ bị lãng quên trong một thập kỷ giảm ngân sách quốc phòng Nhật Bản, Tokyo sẽ không để quan hệ thương mại với Bắc Kinh bị tổn hại hơn nữa bằng cách trở thành người cầm đầu phong trào phản đối Trung Quốc tại châu Á. Hơn nữa, các quốc gia khác quan tâm trước tiên đến vấn đề biển Đông, chứ không phải các vấn đề của Nhật Bản ở tận phía Bắc. Điều này khiến Tokyo không có lựa chọn nào khác là dựa mạnh hơn vào sự ủng hộ của Mỹ và đảm bảo rằng quan hệ đồng minh Nhật - Mỹ vẫn là nền tảng đảm bảo an ninh.

Điều này khiến phần lớn xung lượng của quan hệ Trung - Nhật nằm trong tay Trung Quốc. Nếu có một sự "thư giãn" nào, thì đó có thể là vì ông Tập Cận Bình tập trung vào các vấn đề trong nước những năm đầu nhiệm kỳ. Đối với Tập Cận Bình, ông hẳn được xem là một vị lãnh đạo mạnh mẽ sau sự ra đi của Bạc Hi Lai mùa hè vừa qua và những lời đồn tiếp tục ồn lên trong giới lãnh đạo cấp cao của Đảng. Trong khi ông sẽ cố gắng sửa lại "ngoại giao nụ cười" của Bắc Kinh và không biến Trung Quốc thành một mục tiêu khiến các nước láng giềng lo ngại, đâu sẽ là cách tốt hơn để chứng tỏ sức mạnh trong và ngoài nước hơn là thông qua chiến thuật truyền thống là đương đầu với Nhật Bản?

Châu Giang theo FP