Chiếc bàn hình tam giác là không thể chấp nhận được với Hà Nội vì nó có nghĩa là Bắc Việt Nam bị áp đảo 2-1 bởi Mỹ và Nam Việt Nam. Một hình chữ nhật hoặc hình vuông truyền thống không có lợi cho Sài Gòn bởi vì Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam sẽ có được trọn một cạnh bàn.

>> Kỳ 1: Hòa đàm Paris 1968: Trò chơi hai cấp độ?

>> Kỳ 2: Hòa đàm Paris: Mỹ xếp Việt Nam Cộng hòa ở đâu?

>> Kỳ 3: Hòa đàm Paris và 'kẻ xúi bẩy' đằng sau Johnson

>> Kỳ 4: Hòa đàm Paris giữa cuộc đối đầu của các cố vấn

>> Kỳ 5: Hòa đàm Paris 1968: 'Hãy đừng bị lừa dối'

>> Kỳ 6: Hòa đàm Paris 1968: Áp lực gia tăng

Từ ngày 31/10 tới ngày nhậm chức, Tổng thống Thiệu thực thi chiến lược trì hoãn mà Nixon, Chennault và Kissinger trông đợi. Thiệu đã phản ứng "một cách xúc động và rời rạc" về quyết định ngưng ném bom của Johnson và cảnh báo đại sứ Mỹ tại Sài Gòn Ellsworth Bunker rằng "ngài không thể ép chúng tôi làm bất cứ điều gì chống lại lợi ích của chúng tôi".

Vào ngày 1/11, Thiệu đã có một bài phát biểu hùng hồn, trong đó ông ta bêu riếu quyết định của Johnson và tách chính quyền Nam Việt Nam ra khỏi các nỗ lực của Harriman tại Paris. Bunker báo cáo vào ngày tiếp theo rằng một Thiệu ngày càng nóng nảy đã "tự nhốt mình trong căn hộ riêng ở Dinh Độc lập" và từ chối gặp riêng ông. Bunker kết luận rằng Thiệu "tin rằng Nixon sẽ thắng và sẽ theo đuổi một chính sách diều hâu, và vì vậy ông ta có thể chờ đợi. Khi Bunker rốt cục được phép tiếp kiến Tổng thống, họ đã nói chuyện suốt 9 giờ liền, trong thời gian đó Thiệu tiếp tục lảng tránh khi đối mặt với sức ép từ chính quyền Johnson là phải đồng ý cử một đoàn đại biểu tới Paris.

Bunker báo cáo rằng phiên họp trường kỳ này "hóa ra là một việc làm vô ích, với Nam Việt Nam nhìn chung gây ra các trở ngại nhanh hơn chúng ta có thể dỡ bỏ chúng [. . .]. Ngày càng trở nên rõ ràng rằng Thiệu và các cộng sự của ông ta chẳng mấy tôn trọng việc thời gian đang trôi nhanh. (Chúng ta cứ nhìn vào đồng hồ của mình, còn họ không thèm nhìn đồng hồ của họ)". Nếu một đoàn đại biểu Nam Việt Nam từng khởi hành đi Paris thì là do họ bị kéo khỏi Sài Gòn, vùng vằng và la hét. Thiệu thẳng thừng từ chối cử bất kỳ ai tới các cuộc hội đàm ở Paris.

Rất rõ ràng từ đó trở đi rằng các cuộc đàm phán của Harriman sẽ không đạt được gì. Dean Rusk tin rằng gần như là không thể đối với Mỹ trong việc thúc ép Nam Việt Nam làm bất cứ điều gì đi ngược lại mong muốn của họ: "Tổng thống Kennedy đã nói rằng chúng ta sẽ tạo ra một trận chiến ở đó để cứu Nam Việt Nam. Điều đó đã đặt chúng ta vào cuộc. Chúng ta đã mất 29.000 người ở đó và đã đầu tư 75 tỷ USD để giữ cho Nam Việt Nam khỏi bị tàn phá. Chúng ta phải thận trọng không dội nó xuống mương. Đối với bất cứ điều gì sẽ xảy ra, Tổng thống phải đưa Thiệu vào "cách xử lý Johnson" và phải dọa sẽ cắt đứt hỗ trợ quân sự.

Ông Xuân Thủy đang trả lời phỏng vấn tại Hòa đàm Paris. Ảnh tư liệu

Tuy Johnson đã thừa nhận từ lâu rằng đảm bảo một lối thoát khỏi Việt Nam là công việc dành cho người tiếp theo, điều này đã không xảy ra. Vài ngày sau ngày ngừng ném bom 31/10, một trong những trợ tá của Averell Harriman, Daniel Davidson, báo cáo về một cuộc trò chuyện mà ông đã thực hiện với Murrey Marder của Washington Post. Nhà báo này hỏi Ngoại trưởng liệu có bõ công ông tới Paris đưa tin về các cuộc đàm phán chính thức đầu tiên giữa Mỹ và Bắc Việt Nam hay không. Rusk đáp lời rằng "ông sẽ mất thời gian [. . .] vì sẽ không có gì xảy ra ở Paris cả - rằng cả hai bên có những quan điểm trái ngược mà họ không thể từ bỏ, và vì vậy một sự thỏa hiệp qua đàm phán là không thể".

Marder đưa tin thêm rằng Rusk "hàm ý rõ ràng không chỉ không có gì xảy ra ở Paris mà còn không có gì đã xảy ra ở Paris". Rusk hiển nhiên tin rằng các cuộc đàm phán ở Paris gần như chỉ là bề ngoài giả tạo. Một Harriman kiệt sức tổng kết rằng "điều duy nhất mà tôi có thể nắm được về Rusk là ông ấy muốn kết thúc sự nghiệp của mình như một Hàn Chiến Binh mạnh mẽ, với tất cả các khẩu súng đang xả đạn, với Nixon chịu thua và là kẻ nhượng bộ". 
Chắc chắn, khoảng thời gian từ chiến thắng bầu cử của Nixon ngày 5/11 tới ngày nhậm chức 20/1 là thời điểm bực dọc của nhóm Harriman tại Paris. Kissinger và Anna Chennault đã làm tốt công việc của họ. Không có cơ hội Thiệu sẽ đồng ý với các điều khoản trong thời gian còn lại của chính quyền Johnson. Chiến thuật trì hoãn mà Tổng thống Nam Việt Nam triển khai trong thời gian còn lại của chính quyền Johnson là đưa ra lo ngại về hình thù của bàn đàm phán.

Sài Gòn không muốn bước vào các cuộc đàm phán 4 bên ở Paris (cùng với Mỹ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam - NLF) nếu NLF được công nhận là một thực thể tách rời Hà Nội. Vì vậy, một bàn đàm phán phải được thành lập để có thể có cả 4 bên mà sẽ tạo ấn tượng rằng các đoàn đại biểu Bắc Việt Nam và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam là một và giống nhau.

Chiếc bàn hình tam giác rõ ràng là không thể chấp nhận được với Hà Nội vì nó có nghĩa là Bắc Việt Nam bị áp đảo 2-1 bởi Mỹ và Nam Việt Nam.

Một hình chữ nhật hoặc hình vuông truyền thống không có lợi cho Sài Gòn bởi vì Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam sẽ có được trọn một cạnh bàn. Nam Việt Nam thích hai bàn chữ nhật riêng rẽ, vốn không thể là một sự sắp xếp chỗ ngồi được thiết kế để truyền đạt sự tin tưởng lẫn nhau.

Lựa chọn thỏa hiệp hiển nhiên là một thiết kế hình tròn, nhưng bằng cách này hay cách khác, Thiệu đã tập trung chống đối những gì là một lựa chọn theo tỷ lệ.  

Ngày 11/12, Harriman báo với Rusk rằng quan điểm của Nam Việt Nam về hình dạng bàn đàm phán vẫn không khoan nhượng. Harriman nhận xét rằng "rõ ràng Nam Việt Nam bị khóa chặt trong một tư thế hoàn toàn cứng nhắc và quá đáng về việc sắp xếp chỗ ngồi. Thật vậy, [Nam Việt Nam] thậm chí không thể xem xét bất cứ điều gì ngoài hai bàn đàm phán hình chữ nhật đối diện nhau [. . .]. Nếu vấn đề kéo dài, Hà Nội sẽ có cơ hội tuyên truyền [. . .]".

Sự nghiệp xuất sắc của Harriman như một trong những nhà ngoại giao vĩ đại của Mỹ sắp kết thúc theo kiểu tệ hại nhất. Một bản ghi nhớ ngày 15/12 mà Bunker gửi cho Rusk nói nhiều về bản chất đôi khi ngớ ngẩn của ngoại giao:

"Chúng tôi không thấy được làm cách nào mà một bàn tròn liên tục đơn lẻ có thể bị xem như một sự thỏa hiệp, và chúng tôi không tin rằng Nam Việt Nam cũng sẽ thấy được. Mặc dù một sự sắp đặt như vậy sẽ cho phép chúng ta thỏa mãn trong tưởng tượng rằng hai bên đối diện nhau. Thực tế có nhiều riêng biệt của 4 đoàn đại biểu trong mối quan hệ của họ với nhau như thể họ đang ngồi dọc theo một cạnh bàn [. . .]

Ngoài ra còn có những lựa chọn khác có thể được khám phá, ngoài bàn tròn, elip dẹt, và hình thoi  [. . .]Chúng tôi lưu ý rằng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã nói về một hình bình hành và về các góc của nó. Điều này có thể là một dấu hiệu. Nếu như chúng ta không nhầm, một hình bình hành với các cạnh bằng nhau cũng giống như hình thoi. Một hình thoi phẳng, thậm chí không bị vỡ, có thể được đại diện một cách hợp lý bởi cạnh của chúng ta vì bao gồm những yếu tố cần thiết của một cuộc gặp hai bên trong khi cạnh kia có thể vẫn chỉ tới thực tế rằng cuộc gặp đó là bốn bên. 

Bản ghi nhớ của Bunker sẽ hoàn toàn khôi hài nếu như các khoản cược không quá cao. Trong 9 tháng sau Chiến dịch Tết Mậu thân, các lực lượng Mỹ và Việt Nam đã phải chịu đựng thiệt hại thảm khốc. Hòa bình thích hợp nhất là vào thời điểm này, nhưng thương vong của cả hai phía là cao nhất.

Rốt cục, tự bản thân Tổng thống cũng tham gia, viết cho Thiệu rằng "cả dân chúng Mỹ và Quốc hội Mỹ không thể hiểu được việc ông không chấp nhận một bàn đàm phán tròn, liên tục, và nếu cần thiết, không đánh dấu. Một bàn như vậy vốn không phải chỉ có 4 bên. Với khoảng cách tại bàn đã chia sẵn trên cơ sở 50-50, bàn này có một xu hướng 2 cạnh rõ ràng ngay cả khi nó không được đánh dấu".

Thậm chí Lyndon Johnson cũng mệt mỏi với trò những chiếc bàn này, kết thúc lá thư đáng chú ý của ông bằng lời cảnh báo: "Xin đừng ép Mỹ phải xem xét lại lập trường cơ bản của mình về Việt Nam". Đáng tiếc, bài nói chuyện gay gắt này là quá ít và quá muộn. Johnson, như một vị Tổng thống sắp rời nhiệm, không muốn tận tâm đạt được một thỏa thuận như ông từng khi sở hữu quyền lực chính trị.

Averell Harriman khổ sở khi các cuộc đàm phán của ông bị Rusk, Rostow và rốt cục là Johnson phá hoại như vậy. Chắc chắn trong trong suy nghĩ của Harriman, nếu Tổng thống tóm lấy cơ hội "dừng ném bom khoảng 3 tuần trước Hội nghị Đảng Dân chủ thì những người Dân chủ sẽ đoàn kết, mà không có những chia rẽ nghiêm trọng, Humphrey sẽ được đề cử mà không có xung đột về chính sách Việt Nam, và như các cuộc thăm dò thể hiện vào tháng 6 và tháng 7, ông sẽ khởi động một chiến dịch mà trong đó ông sẽ trúng cử một cách rõ ràng".

Trong một bản ghi nhớ soạn thảo cho hồ sơ lịch sử, Harriman viết rằng "trong vài năm tôi đã giữ lập trường rằng Việt Nam quan trọng trong chính sách của Mỹ, nhưng có những điều khác còn quan trọng hơn".

Cuộc chiến Việt Nam đã khiến Johnson tách biệt khỏi đảng mà ông đã cống hiến cả cuộc đời. Năm 1968 đánh dấu sự khởi đầu của một thời kỳ khủng hoảng bầu cử khủng khiếp cho Đảng Dân chủ khi họ dần để mất vị thế của mình, vốn được thiết lập từ thời kỳ Franklin Delano Roosevelt làm Tổng thống, như một đảng có số cử tri tự nhiên đông đảo nhất. Trong lập trường thù địch của ông đối với các nỗ lực hòa bình của Harriman, Lyndon Baines Johnson - một trong những người Dân chủ vĩ đại của lịch sử - đã thể hiện rất ít lo lắng cho số phận của đảng mình trên toàn đất nước. Xã hội Lớn đã bị dừng lại trên đường ray bởi một uy lực Cộng hòa bởi vì Việt Nam đã rút kiệt khỏi Johnson cuộc đấu tranh chính trị của ông, và mối quan tâm về các mục tiêu quân bình, mà đã dẫn dắt ông trong suốt sự nghiệp của mình.

Suốt năm 1968, một vở kịch chính trị trong nước đã được diễn, và ngoại giao quốc tế nằm ở tâm điểm. Như Dean Rusk thẳng thắn nhận xét vào tháng 11/1968, "chừng nào Lyndon Johnson còn là Tổng thống và tôi còn là Ngoại trưởng, sẽ không có bất cứ một tiến bộ nào ở Paris". Điều này rõ ràng là một sự không thừa nhận chính trị đảng phái mà một người có thể tưởng tượng được.

Đối với Robert Putnam, "các chính trị gia có thể muốn mạo hiểm một vài người ủng hộ bình thường của họ để phê chuẩn một thỏa thuận quốc tế, nhưng thiệt hại tiềm ẩn càng lớn thì họ càng miễn cưỡng". Các hành động của Lyndon Johnson năm 1968 đã bác bỏ luận đề này. Mối quan tâm của Tổng thống về số phận của Nam Việt Nam thế chỗ cho quan tâm về "những người ủng hộ bình thường" của ông - Đảng Dân chủ nói chung - những người đã trở nên quá chán ghét cách thức ông xử lý cuộc chiến Việt Nam. Nhưng thất bại của các cuộc hòa đàm năm 1968 chứng tỏ sự tinh tường trong cách nhìn của Putnam rằng các thỏa thuận quốc tế được tôi luyện, hoặc chết yểu, bởi một sự trao đổi phức tạp giữa chính trị trong nước và những thực tế địa chính trị quốc tế. Tuy nhiên, các yếu tố nằm dưới sự hình thành hoặc đổ vỡ của chúng không phải lúc nào cũng đi theo một mô hình logic bề ngoài.

David Milne

  • Tác giả David Milne là một giảng viên cao cấp về Lịch sử Chính trị Mỹ tại Đại học Đông Anglia. Ông là một thành viên Fox International tại Đại học Yale năm 2003, một thành viên cấp cao của Viện Gilder-Lehrman về Lịch sử Mỹ, New York City, năm 2005, và ông có tư cách hội viên tại Hiệp hội Triết học Mỹ, Philadelphia, năm 2008. Chuyên khảo đầu tiên của ông, "Rusputin của Mỹ: Walt Rostow và Cuộc chiến Việt Nam" đã được Hill and Wang xuất bản năm 2008. Hiện nay ông đang viết cuốn sách thứ 2, tựa đề tạm thời là Thuyết duy lý trí trong Ngoại giao Mỹ (Intellectualism in American Diplomacy), cho Farrar Straus and Giroux. Tác phẩm của ông đã xuất hiện trên Tạp chí Lịch sử Quân sự, International Affair, The Nation, và the Los Angeles Times.
  • Sam Nguyễn dịch