
>> Nhìn vào phương trình quân sự Ấn - Trung
Mọi thứ bắt đầu đổi thay trong thời của Tổng thống George W. Bush - sự đổi thay mang tính biểu tượng bằng thỏa thuận gây nhiều tranh cãi cho phép Mỹ bán công nghệ hạt nhân dân sự cho Ấn Độ. Chính quyền Obama đã tận dụng mọi thứ đã có từ thời tiền nhiệm để phát triển quan hệ song phương lên một cấp độ mới. Ví dụ, Tổng thống Obama đã gọi Ấn Độ "là đồng minh tự nhiên" của Mỹ, trong khi vị cựu Bộ trưởng Quốc phòng Leon Panetta mô tả Ấn Độ là "một cột trụ" trong trục xoay châu Á - Thái Bình Dương của Mỹ.
Trong khi có rất nhiều lý do để một nền dân chủ lâu đời nhất thế giới và một nền dân chủ lớn nhất thế giới hàn gắn quan hệ, thì có lẽ lý do quan trọng nhất mà ít có quan chức có thể công khai chỉ ra: đó là sự trỗi dậy của Trung Quốc. Trong thời hiện đại, căng thẳng giữa New Delhi và Bắc Kinh đã gợi lại bóng dáng cuộc chiến biên giới năm 1962. Trên thực tế, tranh chấp biên giới trên đất liền giữa hai nước vẫn chưa được giải quyết. Để theo kiệp sức mạnh quân sự đang trỗi dậy của Bắc Kinh, Ấn Độ cần nhanh chóng hiện đại hóa lực lượng vũ trang, nghĩa là đa dạng hóa hơn là chỉ phụ thuộc vào khí tài Nga, hướng nhiều hơn tới châu Âu và Mỹ.
Trong khi đó, Washington lại đang tìm kiếm mọi con đường để duy trì và bảo đảm vị thế của mình ở châu Á - Thái Bình Dương khi sức mạnh Trung Quốc không ngừng gia tăng. Có được một cường quốc khác đang trỗi dậy trong khu vực đứng về phía Mỹ là một sự khởi đầu tốt đẹp.
![]() |
| Ảnh: Diplomat |
Nếu sự hợp tác Mỹ - Ấn chỉ là trên giấy tờ, thì việc cải thiện quan hệ song phương rất khó khiến cuộc chơi thay đổi. Có một số lý do giải thích việc tại sao sự hợp tác chiến lược Mỹ - Ấn lại chỉ đạt kết quả khiêm tốn: từ đội ngũ quan liêu cản trở khả năng ký kết các hợp đồng mua bán vũ khí, tới cân nhắc xa hơn vì e ngại phản ứng từ Trung Quốc. Dù sao thì, một nhân tố quan trọng hơn cả đó chính là sự chưa cân xứng giữa những gì Mỹ muốn Ấn Độ làm và những gì New Delhi cho là thích hợp nhất để thực hiện.
Những người ủng hộ việc thắt chặt quan hệ giữa Washington và New Delhi thường coi Ấn Độ là một cường quốc hàng hải mới nổi. Như cựu Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates nói trong năm 2010 rằng "Ấn Độ có thể là nhà cung cấp mạng lưới an ninh ở Ấn Độ Dương và xa hơn nữa". Ví dụ, với một lực lượng hải quân lớn hơn, mạnh hơn, Ấn Độ có thể góp phần tuần tra kiểm soát các tuyến đường biển quan trọng, ngăn chặn và chống các hoạt động buôn lậu, chống hải tặc, cung cấp hỗ trợ hoạt động nhân đạo và phản ứng nhanh với các thảm họa tự nhiên. Tất cả đều giúp giảm bớt gánh nặng đối với hải quân Mỹ - vốn trước nay chịu trách nhiệm như một nhà cung cấp an ninh toàn cầu cũng như người phản ứng đầu tiên với thách thức lâu dài khi cán cân quân sự chuyển dần về Tây Thái Bình Dương. Không hề bất ngờ khi cho rằng, các sứ mệnh chống hải tặc và hỗ trợ nhân đạo là trung tâm hợp tác an ninh Mỹ - Ấn hiện nay.
Giả định rằng, mục tiêu cơ bản của việc thắt chặt quan hệ Mỹ - Ấn là duy trì sự cân bằng ổn định ở khắp châu Á, thì một lực lượng hải quân Ấn Độ vững mạnh hơn sẽ có tác động về lâu dài. Trên thực tế, nó còn có thể phản tác dụng. Sự cạnh tranh giữa Trung Quốc và Ấn Độ có thể bắt đầu trên đất liền, nhưng đang dịch chuyển dần sang địa hạt hàng hải, đặc biệt là khi Bắc Kinh nhanh chóng kết thân với những quốc đảo và quốc gia ven biển ở Ấn Độ Dương trong khi New Delhi tiếp tục củng cố các khả năng hàng hải. Xây dựng các hạm đội hải quân hùng mạnh có thể giúp Ấn Độ phô diễn sức mạnh hàng hải khắp khu vực và xa hơn nữa. Nhưng nó cũng khiến Trung Quốc nỗ lực gấp đôi trong hiện đại hóa lực lượng hải quân, thực hiện nhiều kế hoạch triển khai lực lượng hơn ở ngoài vùng Đông Á, thậm chí là xây dựng sự hiện diện quân sự thường trực trên biển để đối phó với những nguy cơ từ Ấn Độ. Chi phí lớn, những khó khăn thách thức để có được lực lượng hải quân lớn, hiện đại, hiệu quả, đồng thời vẫn đối mặt với sức ép nhiều hơn từ các thách thức trên đất liền, thì chưa có gì đảm bảo rằng Ấn Độ sẽ thành công.
Nếu trọng tâm hiện nay trong hợp tác an ninh Mỹ - Ấn bị đặt nhầm chỗ, thì nên điều chỉnh thế nào, nhất là khi Mỹ có khả năng tham gia cuộc cạnh tranh lâu dài với Trung Quốc về ảnh hưởng và lợi thế vị trí trong khu vực? Câu trả lời đã đưa vấn đề địa chính trị trở lại. Trong khi Ấn Độ có truyền thống tập trung sức mạnh vào những mối đe dọa dọc theo biên giới đất liền, thì Trung Quốc cũng như vậy. Nước này bao quanh bởi 14 quốc gia khác nhau, gồm cả cường quốc lẫn nước hạt nhân. Trung Quốc cũng có nhiều đụng độ, chiến tranh biên giới. Các vùng lãnh thổ xa xôi chủ yếu là nơi sinh sống của dân tộc thiểu số, bất ổn trong nước liên tục đe dọa. Thực tế Trung Quốc mạnh chi vào các khả năng hải quân và không gian trong hai thập niên qua không phải là họ đã sao nhãng những nguy cơ trên đất liền. Thực tế là Bắc Kinh vẫn hết sức nhạy cảm với an ninh biên giới.
Washington có động lực mạnh mẽ để làm chậm xu thế này. Khi Bắc Kinh cần giảm chi tiêu cho các đơn vị mặt đất và an ninh nội địa để tăng mạnh đầu tư cho hải quân, không quân và tên lửa. Rõ ràng là các lực lượng mà Trung Quốc đang phát triển đặt ra mối nguy hiểm lớn nhất với Mỹ, đồng minh và các lợi ích Mỹ ở nước ngoài. Đó là lúc Ấn Độ bước vào cuộc. Lịch sử chứng minh rằng, trong cuộc cạnh tranh giữa các "voi" (cá voi chỉ cường quốc hàng hải Mỹ và con voi chỉ cường quốc đất liền trỗi dậy Trung Quốc), thì thường cần các đồng minh lục địa để tạo thế cân bằng sau này. Ấn Độ là ứng viên duy nhất có thể đánh lạc hướng Trung Quốc khỏi việc tập trung vào hiện đại hóa hải quân, không quân mà quay về củng cố lực lượng truyền thống để phòng thủ lãnh thổ.
Thú vị là, Ấn Độ đang đi theo hướng này. Để phản ứng với sự phát triển quân sự và cơ sở hạ tầng cho hai mục tiêu (quân sự và dân sự) của Bắc Kinh, New Delhi đã bắt đầu tăng cường sự hiện diện quân sự ở gần biên giới tranh chấp: nâng cấp sân bay, triển khai máy bay chiến đấu hiện đại, tên lửa tấn công tới khu vực biên giới, thành lập các đơn vị chiến đấu mới tác chiến vùng núi...
Nếu New Delhi tiếp tục gia tăng xây dựng quân sự dọc theo biên giới phía bắc, họ cần tập trung nỗ lực vào việc triển khai các lực lượng không quân và tên lửa vì một số lý do. Đầu tiên, trong sự so sánh khi triển khai bộ binh hoặc đơn vị thiết giáp, thì tên lửa và không quân sẽ bù đắp những bất lợi về mặt địa lý. Thứ hai, triển khai tên lửa và không quân sẽ làm giảm bớt chi phí đầu tư đáng kể vào hệ thống cơ sở hạ tầng vận chuyển đường bộ đắt giá nhưng lại dễ tổn thương trong tình huống có chiến tranh. Thứ ba, hai lực lượng này đặc biệt hữu dụng để phủ nhận lợi thế đối phương trong dàn quân và tiếp tế.
Về phần mình, Mỹ có thể hỗ trợ Ấn Độ theo nhiều cách, từ chia sẻ thông tin tình báo về triển khai quân sự của đối phương ở khu vực biên giới đến bán các khả năng cho Ấn Độ như hệ thống giám sát trên không, thậm chí là máy bay chiến đấu tàng hình...
Câu hỏi thực sự đặt ra sau tất cả là, Ấn Độ cần đối trọng với Trung Quốc trên đất liền hay trên biển.
Nguyễn Huy (theo Diplomat)
