Trung Quốc không còn là người đơn thuần thụ động tiếp nhận trật tự thế giới, mà đang trở thành nhân tố chính quyết định các lựa chọn chính sách đối ngoại và quốc phòng của các chủ thể quốc tế khác.

Xét theo ý nghĩa chính trị, Bắc Kinh dường như đã đặt mình vào vị trí của một cường quốc toàn cầu. Họ đạt được vị thế này nhờ công cụ là chiến lược cùng tồn tại vừa được nhắc lại trong Sách Trắng quốc phòng. Chiến lược này có mục đích nhằm làm thay đổi bối cảnh tác động đến hành vi quốc tế của các nước khác mà không cần thúc đẩy một trật tự thế giới hoàn toàn mới.

Thay vào đó, phiên bản trật tự thế giới của Trung Quốc lấy cơ sở từ cách giải thích khác về hệ thống Liên hợp quốc đang tồn tại, với hai nguyên tắc quan trọng là chủ quyền tuyệt đối và không can thiệp. Đó là trật tự dựa trên lợi ích được định hướng nhằm bảo vệ Trung Quốc khỏi sự can thiệp từ bên ngoài, duy trì hòa bình và ổn định quốc tế mà không cần bất cứ trách nhiệm phải hợp tác sâu rộng nào.

Bắc Kinh muốn tác động vào bối cảnh đó một cách thường xuyên hơn là trực tiếp định hướng hành vi của các chủ thể quốc tế khác. Chiến lược cùng tồn tại này không đòi hỏi phải có tiềm lực quân sự và kinh tế ở trình độ ngang hàng với Mỹ để thực hiện kiểu gây ảnh hưởng đó, bởi nó dựa trên tính thuyết phục của phiên bản trật tự thế giới hiện nay để lôi cuốn các nước khác mà không cần đẩy mạnh một mô hình tương tác lấy Trung Quốc làm trọng tâm.

{keywords}

Việc tìm hiểu chiến lược cùng tồn tại giúp tìm ra một số đặc điểm của sự trỗi dậy mang tên Trung Quốc vốn bị xem nhẹ hoặc bỏ qua trong các thảo luận hiện nay. Các ý kiến chỉ tập trung chủ yếu vào sức mạnh kinh tế và quân sự ngày một lớn mạnh của Trung Quốc và khả năng những tiềm lực này có thể củng cố khả năng Trung Quốc triển khai sức mạnh ra hệ thống quốc tế khi đã ở tầm cường quốc đến đâu.

Ngoài ra, quan hệ và tương quan so sánh Mỹ-Trung cũng là điểm phổ biến trong cuộc tranh luận này. Kết quả là, có 3 đặc điểm liên quan đến sự phát triển và vị thế tương đối của Trung Quốc trong hệ thống quốc tế chưa được nhìn nhận thấu đáo.

Trước tiên, sự phát triển kinh tế và quân sự của Trung Quốc đã chứng minh về khả năng một quốc gia hoàn toàn có thể phát triển tốt dù thuộc trong nhóm các cường quốc hạng hai, bao gồm các nước như Nga, Ấn Độ và Brazil. Thứ hai, Trung Quốc còn lâu nữa mới đạt đến tầm kiểm soát được sức mạnh về kinh tế và quân sự với Mỹ.

Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Trung Quốc chỉ bằng 1/3 so với Mỹ. Ngân sách quốc phòng Mỹ lớn gấp gần 6 lần Trung Quốc. Thứ ba, mặc dù có vị trí tương đối không thuận lợi này, sức mạnh chính trị của Trung Quốc vẫn tương đối cao so với Mỹ.

Vị thế cường quốc chính trị của Trung Quốc mở rộng không gian hoạt động cho các cường quốc hạng hai và nhỏ hơn. Họ có sức ảnh hưởng đặc biệt bởi Trung Quốc mời chào họ bằng các quan hệ đối tác chiến lược bên cạnh hoặc thay thế cho hệ thống đồng minh của Mỹ.

Vì cả Washington và Bắc Kinh đều phải tranh thủ sự ủng hộ của họ, nên các cường quốc vừa và nhỏ đang có thể gắn kết với cả hai mà không nhất thiết phải đứng về phía bên nào. Sự tồn tại trật tự thế giới phiên bản Trung Quốc bên cạnh phiên bản tự do hiện nay đại diện bởi phương Tây sinh ra một hệ thống quốc tế với hai trật tự thế giới khác nhau trong nhiều lĩnh vực vấn đề và cả trong cùng các khu vực.

Kiểu hệ thống này có nghĩa thế giới đang thiếu vắng một hệ thống thống nhất các nguyên tắc phổ quát quy định hành vi đúng sai trên trường quốc tế. Kết quả là, các mối đe dọa an ninh phải giải quyết bằng các khuôn khổ quản lý xung đột đặc biệt với quy chế thành viên và nguyên tắc quy định trên cơ sở "thử sai" (trial-and-error).

Theo Hiến pháp nước này, chung sống, hay cùng tồn tại hòa bình, bao gồm phải tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không gây hấn lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi cũng như cùng tồn tại hòa bình trong phát triển các mối quan hệ ngoại giao và trao đổi kinh tế, văn hóa với nước khác.

Những nguyên tắc này phù hợp với các quy tắc của hệ thống LHQ trong Chiến tranh lạnh, mặc dù Bắc Kinh giải thích ý nghĩa của các nguyên tắc này theo lợi ích và thế giới quan hậu Chiến tranh lạnh.

Ở mức độ triển khai thực tế hơn, chiến lược cùng tồn tại hòa bình kiểu Trung Quốc bao gồm 5 nguyên tắc hành xử được nêu phổ biến trong quan hệ đối ngoại của nước này. Thông lệ đầu tiên là chỉ can dự vào nước khác trên cơ sở đồng thuận của tất cả các chính phủ liên quan.

Nguyên tắc này này tương phản với chủ trương của phương Tây ủng hộ LHQ can thiệp mà không cần sự đồng thuận của chế độ trong trường hợp xảy ra các vụ vi phạm nhân quyền nghiêm trọng đe dọa làm trật bánh hòa bình và ổn định quốc tế.

Nguyên tắc thứ hai là hạn chế sử dụng vũ lực vì mục đích quản lý xung đột trong hệ thống quốc tế. Điều này cũng khác với nỗ lực của phương Tây cho phép LHQ chấp thuận trừng phạt và thiết lập hòa bình, nếu cần có thể sử dụng vũ lực khi một mối đe dọa đối với hòa bình và ổn định quốc tế được thừa nhận.

Nguyên tắc thứ 3 là khuyến khích các nước theo đuổi mô hình phát triển quốc gia mà họ thấy phù hợp nhất theo quan điểm lịch sử và cơ cấu chính trị của họ. Ngược lại, phương Tây cổ vũ một chương trình nghị sự chính trị và kinh tế tự do làm kiểu mẫu cho các quan hệ nhà nước - xã hội ở các nước khác.

Nguyên tắc thứ 4 là không phán xét chế độ, khuyến khích hợp tác với tất cả các nước, như một cách tốt nhất để thúc đẩy thịnh vượng chung. Phương Tây thay vào đó yêu cầu phải theo đuổi các tiêu chuẩn dân chủ, nhân quyền cơ bản nếu một quốc gia muốn được hưởng lợi từ các cơ chế kinh tế tự do, thương mại và viện trợ.

Nguyên tắc thứ 5 là khuyến khích đa dạng quốc tế (international pluralism) bằng cách chấp nhận hành động của mỗi nước trên cơ sở giải thích khác nhau về hành vi đúng sai. Điều này ngược lại với niềm tin của phương Tây vào tính phổ quát của các giá trị kinh tế và chính trị.

Nguyễn Tính (Theo Atimes)