
Giống như George Shultz, vị ngoại trưởng lừng danh của Ronald Reagan, bà Clinton thường xuyên nhấn mạnh rằng ngoại giao và phát triển kinh tế luôn phải đi liền với nhau. Bà từng tuyên bố rằng giúp đỡ các nước đối tác đat được ổn định xã hội, dựa trên tiến bộ về y tế, an ninh lương thực và quyền phụ nữ sẽ giúp các đồng minh thịnh vượng hơn và giúp giải quyến các vấn đề của chính sách ngoại giao truyền thống.
Nhìn lại bài diễn thuyết tại Qatar năm 2011 của bà Clinton, ngay khi xuất hiện các tín hiệu của phong trào Mùa xuân Ả rập, có thể coi đó là một lời nhắc nhở trước cho các lãnh đạo của thế giới Ả rập, họ sẽ phải chịu trách nhiệm vì đã thất bại trong việc “Xây dựng được một tương lai, nơi thế hệ trẻ tin tưởng, ở lại và bảo vệ họ”. Bà cho rằng người dân Ả rập đã “quá mệt mọi về vấn nạn tham nhũng và hệ thống chính trị trì trệ”, đồng thời cảnh báo “nền móng của các thể chế này có thể chìm xuống cát bụị”.
![]() |
Ngay sau đó, bà Clinton đã truyền tải thông điệp này trực tiếp tới các quốc gia mà bà ghé thăm. Bà thường xuyên có các cuộc nói chuyện trước đám đông, không chỉ diễn thuyết ở các diễn đàn quốc tế mà còn trước cả các người dân và truyền thông địa phương, một cách giúp xóa bỏ các tư tưởng bài Mỹ tại các quốc gia Hồi giáo (cho dù luận điểm này không được nhiều cuộc thăm dò chứng minh). “Tôi nghĩ rằng đó thực sự là một phương thức ngoại giao mới”, cựu giám đốc chính sách của bà Clinton, bà Anne-Marie Slaughter cho biết trong một cuộc phỏng vấn. “Bà ấy là người duy nhất đã nói với tôi rằng:“Bạn cần phải có liên hệ cấp chính phủ với chính phủ, chính phủ với nhân dân và nhân dân với nhân dân”. Bà ấy chỉ rõ rằng người dân tại các quốc gia khác nhau không chỉ là đối tượng của các chính sách, mà họ còn là những nhân tố tích cực của quá trình đổi mới, phát triển, và trên hết là giải pháp”.
Trường hợp cựu Tổng thống Ai Cập Mohamed Morsi từng dao động với những cam kết dân chủ của mình, trước khi bị quân đội phế truất vừa qua, có thể coi là một thử nghiệm với mô hình ngoại giao của bà Clinton. Mặc dù thiết lập quan hệ chủ yếu với chính phủ của ông Morsi và quân đội Ai Cập, Bộ Ngoại giao Mỹ vẫn duy trì liên hệ giữa các tổ chức phi chính phủ tại quốc gia Bắc Phi này và nước mình, tập trung vào lĩnh vực giáo dục và phát triển. “Với phương thức phối hợp này, chúng tôi luôn có người để liên hệ” Bà Slaughter cho biết “Mubarak đã bị lật đổ và Tổ chức Anh em hồi giáo đã lên nắm quyền, nhưng hiện nay chúng tôi có liên hệ với cả các tổ chức phụ nữ, các chuyên gia kĩ thuật và cả các doanh nghiệp thông qua nhiều chương trình. Nếu ngoại giao là việc xây dựng các mối quan hệ mà bạn có thể trông cậy trong lúc khủng hoảng thì bà Clinton đã thực sự phát triển phương thức này.” Sau khi lên nắm quyền từ tay cựu Tổng thống Hosni Mubarak, ông Morsi đã phải chịu sức ép tiết chế các hành động của mình không chỉ từ các quan chức chính phủ Mỹ mà còn từ các tổ chức thúc đẩy dân chủ được Washington ủng hộ và đào tạo.
Bên cạnh đó, cho dù là người giúp xây dựng chiến lược chuyển trọng tâm sang châu Á đề kìm hãm tầm ảnh hưởng của Trung Quốc, bà Clinton cũng thúc đẩy các mối liên hệ giữa người dân hai nước. Bà đề ra chương trình Học bổng “Sáng kiến 100.000”, dành 100.000 suất học bổng cho sinh viên Mỹ du học tại các trường đại học Trung Quốc (gấp 10 lần số sinh viên Trung Quốc đang học tại Mỹ). Bà cũng tập trung tới vấn đề phát triển kinh tế tại Trung và Nam Á.
Bằng việc đề xuất xây dựng một “Con đường Tơ lụa mới”, bà muốn thiết lập các lộ tuyến thông thương mới, bao gồm cả trục Islamabad và Kabul, qua đó gián tiếp ổn định Afghanistan và đối phó với một số hành động chống đối của Pakistan. Và kế hoạch đàm phán thỏa thuận tự do thương mại xuyên Đại Tây Dương giữa Mỹ và châu Âu được Tổng thống Obama công bố hồi tháng 2 vừa qua, cũng bắt nguồn từ một đề xuất của bà Clinton.
Tuy nhiên, bà Clinton có thể vượt trội hơn về chính sách ngoại giao mềm mỏng, song bà thường né tránh các chính sách cứng rắn mang lại nhiều thành công lớn mà những người tiền nhiệm từng thi hành. Đơn cử như Học thuyết Monroe và Hiệp ước Xuyên lục địa với Tây Ban Nha của cựu Ngoại trưởng Adams, chính sách ngăn chặn của cựu Ngoại trưởng Dean Acheson hay ngoại giao con thoi giữa thế giới Ả rập với Israel và lợi dụng khôn ngoan sự chia rẽ giữa Trung Quốc và Liên Xô của Henry Kissinger. Một số nhà phê bình cho rằng các chương trình nghị sự khiêm tốn của bà Clinton bắt nguồn từ sự thận trọng chính trị. Trong một đánh giá mới đây, nhà báo David Rohde dẫn lời một quan chức Bộ Ngoại giao Mỹ cho biết việc bà Clinton ngần ngại tham gia vào các cuộc xung đột là nhằm phục vụ cho tham vọng tranh cử tổng thống trong tương lai.
Trên thực tế, bà Clinton luôn tránh phải tham gia vào các cuộc hòa giải trực tiếp. Bà thường đẩy nhiệm vụ tham gia các cuộc đàm phán quan trọng tại các điểm nóng sang đặc phái viên, như George Mitchell với sứ mệnh hòa giải Israel-Palestine hay Richard Holbrooke phải tìm ra một giải pháp chính trị cho tình hình Afghanistan và Pakistan. Bà hiếm khi tham gia ngay cả khi các đặc phái viên gặp bế tắc. Có thể nói đến các vấn đề khác nữa, như chương trình hạt nhân của Triều Tiên, bà Clinton chỉ đơn giản hoãn lại các cuộc đàm phán.
Dựa trên chính sách “chiến lược nhẫn nại” với Triều Tiên của bà Clinton, Washington đã từ chối cung cấp bất cứ ưu đãi mới nào cho Bình Nhưỡng để nối lại các cuộc đối thoại giải trừ hạt nhân. Tuy nhiên chính sách này đã không cho thấy hiệu quả. Căng thẳng giữa hai bên vẫn kéo dài trong suốt 4 năm, và ngay sau khi bà Clinton từ chức, người kế nhiệm bà, John Kerry, lại phải đón nhận một vụ thử hạt nhân khác từ Triều Tiên.
Có thể không công bằng nếu quy trách nhiệm cho bà Clinton về vụ tấn công vào Đại sứ quán Mỹ tại thành phố Benghazi, Libi , khiến đại sứ nước này thiệt mạng. Nhưng ít nhất thì kể từ nhiệm kì của cựu ngoại trưởng Cyrus Vance, vào cuối thập kỷ 80 của thế kỉ trước, mới có một đại sứ Mỹ thiệt mạng khi đang công tác. Trong buổi điều trần trước Thượng viện về vụ tai nạn này, bà Clinton cũng đã thừa nhận một số trách nhiệm, khi cho rằng mình và các đồng nghiệp đã không lường trước được phát triển của các nhóm thành chiến mới ở Libi và khu vực. Bà nói: “Chúng ta cần có chiến lược tốt hơn”. “Mùa xuân Ả rập đã mở ra một thời kì mới, chứng kiến sự lớn mạnh của al Qaeda.” Với cách diễn giải này, bà Clinton đã vô tình thừa nhận quan điểm của ứng cử viên Tổng thống của Đảng Cộng hòa Mitt Romney trong chiến dịch tranh cử năm 2012, khi cho rằng tổ chức khủng bố đứng đằng sau vụ tấn công 11/9 và các chi nhánh của chúng vẫn chưa thể bị đánh bại.
Trong bài diễn thuyết trước khi rời nhiệm sở, bà Clinton đã đề cập đến ngụ ngôn “chiếc hộp Pandora”, khi nói về luồng vũ khí được vận chuyển qua nhiều quốc gia Trung Đông và Bắc Phi. Và chiếc hộp Pandora này có thể sẽ gây ra nhiều khó khăn hơn nữa cho tân Ngoại trưởng Kerry. Tình trạng hỗn loại tại Libi sau thời kì Qaddafi, cuộc nội chiến tại Syria, sự nổi lên của trung tâm khủng bố tại bắc Mali… tất cả đã khiến chính quyền của Tổng thống Obama phải ngỡ ngàng. Các quan chức Mỹ đang lo ngại những quốc gia này có thể sẽ đổ vỡ hoặc rơi vào các cuộc xung đột dai dẳng, tương tự các nước hậu thuộc địa tại châu Phi như Somalia hay Cộng hòa Dân chủ Congo, nơi những bộ lạc và các nhóm dân tộc thiểu số không ngừng tiến hành chiến tranh với nhau.
Bạo lực lan rộng ở Trung Đông và Băc Phi có thể được coi như một trong những di sản tồi tệ nhất của bà Clinton. Chính vấn đề này mà cho dù tân bộ trưởng Ngoại giao Kerry có muốn dồn toàn bộ tâm huyết vào châu Á, ông có thể vẫn bị sa lầy vào khu vực Trung Đông mà không có sự phục vụ của đội ngũ an ninh quốc gia như trong nhiệm kỳ đầu của Tổng thống Obama. Có thể lấy tình hình Syria làm minh chứng cho sự thận trọng trong các chi tiêu của chính phủ Mỹ giành cho khu vực này. Tổng thống Obama đã quyết định không vũ trang cho phe đối lập Syria, và điều này đã khiến Nhà Trắng phải nhận phải nhiều sự chỉ trích về thái độ thờ ơ với cuộc khủng hoảng nhân đạo tồi tệ và một cuộc xung đột có thể gây bất ổn toàn khu vực.
Lê Minh Đức (Lược dịch từ Foreign Affairs)
Còn nữa
