Trong vấn đề biển Đông hiện nay, Việt Nam đã chậm chân hơn Trung Quốc rất nhiều trong việc sử  dụng ngoại giao kênh II.

>> Cần một "nhạc trưởng" nghiên cứu chủ quyền

>>Tranh chấp biển Đông: Lí lẽ cho niềm tin

Trước nhu cầu cấp thiết của học thuật hóa tranh chấp biển Đông, câu hỏi quan trọng nhất được đặt ra là: Việt Nam cần làm những gì để tăng cường hơn nữa hiệu quả của chiến lược “học thuật hóa”? Có ba cách thức để chúng ta có thể tăng cường tiếng nói bảo vệ chủ quyền.

Thứ nhất là tổ chức nhiều hơn những hội thảo khoa học mang tầm quốc gia và quốc tế để tranh luận, nêu quan điểm và học hỏi lẫn nhau trong các vấn đề học thuật. Thứ hai là công bố những lý lẽ chủ quyền của Việt Nam thông qua các bài viết khoa học, những công trình nghiên cứu theo chuẩn quốc tế. Và cuối cùng là cách thức “mượn sức người làm sức mình”, tận dụng những nguồn lực từ bên ngoài để hỗ trợ cho công việc nghiên cứu và phát triển lý lẽ, lập luận.

Tranh luận và cọ xát

Có thể thấy càng ngày càng có nhiều hơn những cố gắng từ phía giới học giả Việt Nam nhằm tăng cường nghiên cứu về  biển Đông, qua đó giới thiệu những ý tưởng, những lập luận của mình ra thế giới thông qua các cuộc hội thảo được tổ chức ngày càng thường xuyên hơn.

Trong vấn đề biển Đông hiện nay, Việt Nam đã chậm chân hơn Trung Quốc rất nhiều trong việc sử  dụng ngoại giao kênh II. Cách thức giải quyết có hiệu quả nhất cho vấn đề này chính là tiến hành "học thuật hóa" một cách toàn diện nhằm  đánh vào mắt xích yếu nhất trong chuỗi chiến lược của Trung Quốc trong vấn đề biển Đông: lý lẽ  và sự ủng hộ của dư luận quốc tế.

{keywords}
Ảnh: Lê Anh Dũng

Trong lĩnh vực hội thảo khoa học, kể từ 2009 đến nay, nhiều hội thảo liên quan đến vấn đề biển Đông đã được Việt Nam tổ chức và thu hút sự chú ý của các học giả quốc tế có uy tín. Các hội thảo kênh chính thức có thể kể tới như "Hội thảo quốc gia về Biển Đông" do Chương trình nghiên cứu Biển Đông, Học viện Ngoại giao, đã tổ chức được hai lần (2009, 2011), hay một hội thảo khác do Học viện Ngoại giao và Hội Luật gia Việt Nam đồng đăng cai mang tên "Hội thảo quốc tế về Biển Đông" đã được tổ chức bốn năm liên tục từ 2009-2012. Hội thảo lần thứ 4 vừa qua được đánh giá là mang nhiều đổi mới và thẳng thắn hơn rất nhiều trong việc nêu ý kiến và trình bày quan điểm từ tất cả các bên, đặc biệt là từ phía các học giả nước ngoài.

Ngoài ra, các hội thảo quan trọng khác cũng cần được nhắc tới như "Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ 4" được tổ chức tại Hà Nội cuối tháng 11 năm 2012, tại  đây lần đầu tiên một tiểu ban chuyên về đối ngoại được thành lập với các tham luận của học giả trong và ngoài nước xoay quanh các tranh chấp tại biển Đông. Tiếp đó là Hội thảo khoa học tầm quốc gia mang tên "Hợp tác biển đông thực trạng và triển vọng" được tổ chức từ 12-13 tháng 12 tại Đà Nẵng. Hội thảo này là lần đầu tiên các học giả của cả  ba miền ngồi lại với nhau cùng bàn luận các vấn  đề quan trọng về lịch sử cũng như tương lai của tranh chấp biển Đông.

Theo Thạc sĩ Lê Hồng Hiệp (giảng viên khoa quan hệ quốc tế ĐH KHXH&NV TP.HCM) thì “Hình thức tổ chức hoặc tham dự các hội thảo như vậy đã phát huy tác dụng tương đối tốt trong thời gian qua vì thông thường các hội thảo đó thu hút được chú ý của dư luận, báo chí quốc tế, thông tin lan tỏa mạnh trong ngắn hạn. Hạn chế của hình thức này là do các hội thảo tổ chức với tần suất khá dày nên các học giả thường mang đến hội thảo các tham luận được đầu tư nhìn chung sơ sài, mang nhiều tính cập nhật thông tin hơn là sâu sắc về khía cạnh học thuật. Các tập kỷ yếu của các hội thảo như vậy, ngay cả khi được biên tập, phát hành cũng có chất lượng học thuật không cao, dẫn tới tác động lan tỏa về lâu dài có thể bị hạn chế.”

Lý lẽ bằng chuẩn khoa học quốc tế

Quan trọng hơn, các nhà nghiên cứu trên thực tế cần rất nhiều tài liệu để thực hiện các công trình của mình, đặc biệt là các nhà nghiên cứu độc lập, tuy nhiên, việc tiếp cận tài liệu cũng gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là các tài liệu gốc của nước ngoài, vốn rất khó tìm kiếm theo các phương pháp thông thường. Vì vậy, việc tập trung tất cả tài liệu về một đầu mối, sắp xếp và phân loại theo hệ thống, các đề mục theo một cách thức dễ dàng tiếp cận nhất, không chỉ dành cho giới khoa học mà còn cho những người quan tâm đến vấn đề biển Đông ở cả trong và ngoài nước đều có thể tham khảo là một biện pháp rất hiệu quả để tuyên truyền những lý lẽ của Việt Nam một cách rộng rãi.

Bên cạnh đó, một khó khăn khác cần được giải quyết  đó là hầu hết các tài liệu quốc tế về  biển Đông đều được xuất bản bằng tiếng Anh, do đó gây ra khá nhiều khó khăn cho học giả  Việt Nam khi nghiên cứu. Thạc sĩ Hồng Hiệp, người hiện đang có dự án biên dịch bài viết về đề tài biển Đông, cho rằng “nên tổ chức biên soạn các cuốn sách chuyên khảo bằng tiếng Anh về vấn đề Biển Đông, tập hợp các học giả Việt Nam và quốc tế, để làm sao đạt chất lượng và có thể được xuất bản bởi các nhà xuất bản quốc tế (các học giả thường e ngại tính khách quan của các cuốn sách nếu chúng được xuất bản trong nước bởi các nhà xuất bản Việt Nam, ngoài ra mạng lưới phát hành của các nhà xuất bản quốc tế lớn hơn nên việc tiếp cận các cuốn sách do họ xuất bản rộng hơn).

Đa dạng cách tiếp cận cũng là một điểm cốt lõi. Nghiên cứu sinh đại học Hong Kong Baptist Nguyễn Thành Trung đánh giá: “Nếu xét ngoại giao học thuật và đấu tranh học thuật của Việt Nam theo nghĩa hẹp là công bố các bài nghiên cứu trên các thể loại tạp chí, hay báo cáo hội thảo quốc tế có tính phổ biến giới hạn trong giới học giả người Việt thì chúng ta có thể thấy Việt Nam còn quá nhiều điều phải cải thiện. Chỉ tính riêng về công bố trên tập san quốc tế đuợc công nhận, chúng ta có thể thấy các số liệu của giới học giả Việt Nam trong mảng khoa học xã hội còn quá nhỏ bé. Hiện nay, tôi thấy chủ yếu Việt Nam hiện nay tập trung nhiều vào việc tổ chức các hội thảo quốc tế về vấn đề biển Đông. Đây là một điểm đáng ghi nhận của Việt Nam, tuy nhiên tôi nghĩ Việt Nam cần phải làm nhiều hơn thế nữa và đa dạng hơn các loại hình ngoại giao học thuật để có thể bảo vệ quan điểm của mình trên bình diện quốc tế thay vì chỉ mình biết với nhau.”

Mượn sức người làm sức mình 

Quan trọng hơn, cần phải có kế hoạch đầu tư xây dựng một đội ngũ học giả có đủ trình độ  để bước vào cuộc chiến “học thuật hóa”  và “ngoại giao học thuật” trên trường quốc tế. Bên cạnh các bước chuẩn bị mang tính chất dài hạn về con người, cũng cần mở rộng giao lưu quốc tế, tiếp thu ý kiến từ các học giả  thế giới và hướng tới lan tỏa các lý lẽ  lập luận của Việt Nam ra cộng đồng quốc tế một cách mạnh mẽ hơn.

Trong bối cảnh mà các bài khoa học về biển Đông của Việt Nam xuất bản trên các tạp chí danh tiếng nước ngoài còn khiêm tốn thì  việc tận dụng những nguồn lực tri thức nghiên cứu sẵn có ở những quốc gia có nền khoa học tiên tiến hơn sẽ là một trong những biện pháp ngắn hạn mang lại hiệu quả.

Đồng tình với quan điểm này, thạc sĩ Thành Trung đưa ra lập luận “một trong những biện pháp quan trọng nhất để thúc đẩy quá trình ngoại giao học thuật về biển Đông có tính quốc tế là nên khuyến khích các học giả trong nước sử dụng tiếng Anh trong việc công bố các nghiên cứu khoa học của mình về biển Đông. Điều này sẽ giúp thế giới dễ dàng tiếp cận quan điểm của các học giả Việt Nam. Thứ hai, khuyến khích tạo tạo điều kiện cho ngày càng nhiều học giả quốc tế tới Việt Nam nghiên cứu, giao lưu, trao đổi học thuật. Mang đến ích lợi cho cả hai bên: trong nước và quốc tế. Vì mảng này Việt Nam làm còn rất yếu so với Trung Quốc. Thứ ba, chấp nhận quan điểm khoa học phản biện và mở rộng biên độ tự do học thuật đối với nghiên cứu về biển Đông.”

Bên cạnh đó, việc tuyên truyền về các cơ sở pháp lý  và các ấn phẩm khoa học về biển Đông của Việt Nam cũng được thạc sĩ Lê Hồng Hiệp nhấn mạnh. Theo đó, chính phủ cần tổ chức một dự án số hóa và biên dịch sang tiếng Anh các tài liệu, dữ liệu, bằng chứng… của Việt Nam liên quan đến việc khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông. Các dữ liệu như vậy khi được đưa lên mạng internet dưới hình thức là một bộ cở sở dữ liệu quốc gia có thể là một nguồn tham khảo đáng tin cậy cho các học giả quốc tế, khuyến khích họ sử dụng và phổ biến hóa các thông tin phù hợp với lập trường và quan điểm của Việt Nam. Đây là một giải pháp quan trọng. Chúng ta cần cung cấp công cụ cho cộng đồng học giả quốc tế để họ nói hộ tiếng nói của mình.

Lực lượng học giả Việt Nam nghiên cứu về Biển Đông hiện nay, dù đã có những phát triển đáng kể trong thời gian qua, nhưng nhìn chung vẫn còn đang mỏng và hạn chế về nhiều mặt. Do vậy, nếu chỉ dựa vào lực lượng học giả người Việt thì khó có thể phát huy tác dụng nhanh chóng và hiệu quả trong việc đấu tranh học thuật về Biển Đông.

Nguyễn Thế Phương-Vũ Thành Công (IRYS)