
LTS: Tuần Việt Nam xin giới thiệu cuộc trò chuyện với GS. Hasjim Djalal, GĐ Trung tâm Nghiên cứu Đông Nam Á (Jakarta), người đã bằng mọi cách nghĩ ra các giải pháp có thế để đóng góp cho việc giúp Biển Đông yên bình hơn cho phát triển.
Đất liền sắp bình yên thì Biển Đông nổi sóng
Ông đã trở thành một nhà nghiên cứu về Biển Đông như thế nào?
Đó là vào cuối những năm 1980 của thế kỷ trước, khi ở khủng hoảng trên đất liền ở Đông Nam Á đã bước vào giai đoạn có thể giải quyết được, nhưng vấn đề Biển Đông lại nổi lên thay thế. Đặc biệt với sự cố xảy ra giữa Việt Nam và Trung Quốc vào đầu năm 1988 (ở Việt Nam người ta quen gọi là Sự kiện Gạc Ma - TG).
Tôi bắt đầu cảm thấy lo ngại vì chuyện đó, bởi vì Indonesia đang cố gắng tiến trình hoà bình và cải cách kinh tế, và nếu ở vùng xung quanh mà không có hoà bình, chúng tôi sẽ không được yên. Và tôi nghĩ rằng tôi phải làm một chuyện gì đó đóng góp cho hoà bình trong khu vực.
Hơn nữa, vì ASEAN không hề có định hướng tương lai về Biển Đông tại thời điểm đó, và ba nước Đông Dương lại chưa phải là thành viên của ASEAN. Và ý nghĩ đến với tôi lúc đó là phải làm sao tìm cách ngăn chặn để cuộc khủng hoảng Biển Đông không phát triển thành sự đối đầu về quân sự giữa các quốc gia có liên quan.
|
GS. Hasjim Djalal |
Và ông đã bắt đầu ý định của mình thế nào?
Tôi bắt đầu đi thăm tất cả 5 nước ASEAN, gồm 5 Malaysia, Singapore, Philippines, Thái Lan và Brunei, và hỏi họ xem họ có cùng mối lo ngại như tôi không.
Lúc đó ông là nhà ngoại giao?
Đúng thế. Hồi đó tôi là Tổng Vụ trưởng phụ trách về hoạch định chính sách đối ngoại. Đó là năm 1989, khi tôi đi 5 nước ASEAN, và hỏi ý kiến các đồng nghiệp của tôi ở bộ ngoại giao.
Rất may là tất cả những người được hỏi đều nói rằng họ cảm nhận điều tương tự. Tôi bảo họ rằng tại sao chúng ta không cố làm một điều gì đó để ngăn chặn sự đối đầu về quân sự.
Việc tiếp theo ông làm là gì?
Để hoạch định những gì sẽ làm tiếp theo, tôi mời họ đến một cuộc gặp ở Bali (Indonesia), vào năm sau, 1990. Vì lúc đó chỉ có 6 người phụ trách 6 nước nên chúng tôi nghĩ ra là phải có 6 chương trình hợp tác, gồm lãnh thổ, an ninh chính trị, môi trường, nghiên cứu khoa học, an toàn hàng hải, và cuối cùng là cơ chế hợp tác giữa các bên.
Họp ở cấp nào?
Cấp tổng vụ trưởng. Nhưng các thành viên trong nhóm của tôi đến dự họp với tư cách cá nhân, mặc dù họ được chính phủ nước họ, thông qua bộ ngoại giao, "bật đèn xanh". Chính phủ các nước muốn xem kết quả đầu tiên sẽ đạt được như thế nào.
Và kết quả bước đầu?
Cuộc gặp thứ hai diễn ra ở Bandung (Indonesia), năm 1991, chúng tôi đã mời đại biểu đến từ Trung Quốc và Đài Loan.
Chắc là sau khi Việt Nam chính thức bình thường hoá quan hệ ngoại giao với Trung Quốc?
Đúng thế. Cần phải nói thêm là lúc đó Việt Nam chưa gia nhập ASEAN nên chưa được mời tham dự.
Và chúng tôi đã xác định cuộc họp diễn ra với qui mô lớn hơn, với sự tham gia của Trung Quốc, Đài Loan, và, ngoài các tổng vụ trưởng, còn có sự có mặt của các đại sứ.
Trong cuộc gặp lần này, chúng tôi đã xác định lại những nguyên tắc mà chúng tôi sẽ phải thông qua. Tôi nhớ rằng lúc đó chúng tôi nghĩ ra 6 nguyên tắc cơ bản như giải quyết hoà bình các tranh chấp, không sử dụng vũ lực, xúc tiến đối thoại giữa các bên tranh chấp...
Chính sáu nguyên tắc này về cơ bản giống như bản hướng dẫn DOC mà hơn 10 năm sau Trung Quốc đã ký với ASEAN.
Nhân việc ông nhắc tới DOC, tại sao phải mất 10 năm sau DOC mới được ký?
Ngoài câu chuyện giữa các nước liên quan, như việc Trung Quốc không đồng ý đưa vấn đề Hoàng Sa vào COC, như ý định ban đầu của ASEAN và mọi người buộc phải chấp nhận một tuyên bố chính trị (DOC) chứ không phải pháp lý (COC), như anh đã biết, còn một chuyện nội bộ nữa là trong ASEAN. Đó là chỉ có non nửa số nước là có tranh chấp Biển Đông, chính vì vậy tìm sự thỏa ước chung giữa các nước này là chuyện khó khăn.
Anh có thể nhìn thấy sự tương tự khi ASEAN và Trung Quốc phải mất rất nhiều công sức khi hơn 10 năm sau quyết định chuyển sang COC với tương lai hãy còn bất định. Hay chuyện xảy ra trong ASEAN với Căm-pu-chia hồi năm ngoái.
Sau đó, các ông tiếp tục với những việc gì?
Sang tới năm thứ ba, cuộc gặp của chúng tôi đã bàn tiếp tới những vấn đề cụ thể. Và tôi được yêu cầu xác định một số mục tiêu chủ yếu, mà chúng tôi đã thống nhất trong cuộc gặp lần thứ hai.
Thứ nhất là làm sao chúng ta có thể xử lý được những xung đột chủ yếu, và tôi nghĩ rằng, trong mọi xung đột tiềm tàng lại luôn có những mối quan hệ tiềm tàng để cùng nhau hợp tác. Đó là cơ sở để giải quyết mọi vấn đề, và trên cơ sở ý tưởng đó chúng tôi đã tìm ra một số biện pháp cùng phối hợp với nhau.
Thứ hai là chúng tôi sẽ không thể giải quyết được vấn đề tranh chấp lãnh thổ, bởi vì chúng tôi không phải là cấp được ủy quyền làm việc này. Đó là chưa nói tới chuyện việc này đòi hỏi quá nhiều thứ phức tạp mà qua nhiều cơ chế khác, kể cả luật pháp quốc tế, mâu thuẫn ở Biển Đông vẫn chưa tìm được lối thoát hữu hiệu.
Chính vì vậy việc chúng tôi có thể làm được là khuyến khích đối thoại giữa các bên tranh chấp. Và đến lượt họ phải cố gắng tìm ra những giải pháp có thể để giải quyết tranh chấp.
Và chủ đề cuối cùng tôi đề xuất là chúng tôi phải thúc đẩy quá trình xây dựng lòng tin, tức là cố gắng dẹp vũ khí sang một bên khi đối thoại. Thậm chí là dẹp những lời có thể xúc phạm lẫn nhau sang một bên.
Khi bàn về chủ quyền, sự hợp tác lâm vào bế tắc
Tôi có cảm tưởng rằng mọi sự bắt đầu khá thuận lợi?
Dường như là vậy, với những cuộc gặp đầu tiên. Cuộc gặp tiếp theo, chúng tôi đi sâu vào vấn đề đối thoại về tranh chấp lãnh thổ.
Nhưng mọi sự phức tạp đã nảy sinh từ đó. Qua 2-3 lần gặp gỡ, chúng tôi bắt đầu cãi nhau, thậm chí là to tiếng với nhau. Câu chuyện không dừng lại ở việc cùng hợp tác giải quyết tranh chấp nữa, mà đây đó đã có người nói tới chuyện sử dụng vũ lực.
Để giải quyết bế tắc đó, các ông đã làm gì?
Chúng tôi tìm cách tìm lối thoát khác, bằng cách tìm hiểu xem các nước ngoài Biển Đông nhìn nhận về mâu thuẫn trong khu vực này thế nào. Chẳng hạn, nước Mỹ suy nghĩ thế nào về tranh chấp Biển Đông, nước Nhật nhìn nhận ra sao, hay nước Úc có quan điểm thế nào...
Rồi cuối cùng, chúng tôi đi đến kết luận rằng chỉ thấy có lĩnh vực môi trường là chúng tôi có thể hợp tác với nhau. Chúng tôi nói về nghiên cứu khoa học, và chúng tôi thấy Việt Nam có tiềm lực nghiên cứu về môi trường ở Biển Đông. Lúc này, Việt Nam đã tham gia ASEAN được 2 năm.
Chúng tôi đã yêu cầu Việt Nam đóng vai trò thủ lĩnh trong việc nghiên cứu nguồn tài nguyên khoáng chất ở đáy Biển Đông. Thế nhưng Việt Nam lại không thể tiến xa được, bởi vì vấn đề tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc, khi nước này ngăn cản chuyện này. Chúng tôi lại yêu cầu Thái Lan, rồi cả Indonesia... Nhưng đều không được, cũng vì vấn đề tranh chấp lãnh thổ.
Nói tóm lại vấn đề lãnh thổ đã cản trở mọi nỗ lực của chúng tôi.
|
GS Djalal học trường Ngoại giao Indonesia vào 1953, và kết thúc năm 1956. Sau đó, ông làm thạc sĩ và tiến sĩ ở Mỹ, đến 1961. Và luận án tiến sĩ của ông là về vấn đề hàng hải, trong đó quan tâm đến Biến Đông, mà ông cho là rất quan trọng đối với Đông Nam Á. Nhưng việc nghiên cứu về Biển Đông của GS Djalal chỉ thực sự chuyên tâm vào cuối những năm 1980, khi Biển Đông bắt đầu nổi sóng... Trước đó, ông làm đại sứ tại Liên Hợp Quốc, Canada, và Cộng hòa Liên bang Đức... Sau khi về hưu, ông được bổ nhiệm làm cố vấn về biển của mấy đời tổng thống Indonesia. |
(Còn nữa)
- Huỳnh Phan