Vậy đấy, ba người lính quèn không làm lính nữa như bao người lặng lẽ khác, nhưng những gì là của lính, làm nên lính thì thời gian, năm tháng cứ tươi xanh thăm thẳm…

Nhà tôi có ba người đàn ông là: Bố, tôi và chú em, cả ba đều từng đi bộ đội.

Bố tôi nhập ngũ năm 1953, "chỉ" được đánh Pháp mạn Ninh Bình mà không có vinh dự tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ nên ông tự coi mình như người ra trận áo chưa thấm mồ hôi.

Đến năm 1965, ông tái ngũ và sau đó là một trong những người lính pháo đầu tiên "gặp" quân Mỹ ở Cồn Tiên, Dốc Miếu (Quảng Trị). Là lính pháo nên khi phục viên về làng, địa phương bố trí ông làm đội trưởng phòng không xã, ban đầu chỉ huy 3 khẩu 12,7mm đứng trên chót đỉnh Hòn Xạ, sau đó là 3 khẩu đại liên hiên ngang vươn nòng trên đỉnh Hòn Dài quê tôi. Trận địa ngay trên đỉnh đồi gần nhà tôi ở, các cô chú phòng không-chúng tôi quen gọi như thế-ăn ở trong nhà, thân thiết gắn bó như anh em ruột thịt.

Bố tôi giờ đã gần tám mươi, mỗi lần xuống Vinh thăm cháu, không lần nào quên đến thăm o Điền bán xôi đầu phố Minh Khai. O ấy chào "anh", xưng "em", mời bố tôi chén rượu, ăn xôi lạc kèm trứng và cũng không bao giờ quên giới thiệu với khách là "Thủ trưởng tôi đó, hồi phòng không...".

Tôi học được nên đỗ đại học ngay năm đầu, ra trường, đi làm rồi mới làm nghĩa vụ quân sự chưa đầy hai năm rưỡi ở Binh chủng Tăng-Thiết giáp.

Còn chú em, thạo cày bừa hơn sách vở nên chưa thi đã biết trượt và xung phong đi nghĩa vụ sớm.

Nói chung, anh em tôi chỉ là lính bắn... bia, chẳng được ra trận như bố. Bố tôi là cựu chiến binh đánh Pháp, đánh Mỹ đàng hoàng, còn chúng tôi là cựu quân nhân. Ngày truyền thống 22-12 hằng năm, cơ quan tổ chức gặp mặt, tôi cũng dự, cũng nhận quà... nhưng quả thực cứ thấy ngài ngại. Ấy là cái sự làm lính của mình nó chẳng thấm tháp gì so với thiên hạ, nói như bố tôi là áo chưa thấm mồ hôi, ú ớ chỉ làm người ta cười cho...

Nhưng có điều này, tôi muốn nói.

Một đời lính, hai lần bố tôi lên đường, bà nội (và sau đó cùng mẹ tôi) tiễn ông ra con đê đầu làng, cứ đứng nhìn theo bóng người xa xa, trập trùng.

Ông có hai lần trở về.

Lần đầu, sau chống Pháp thắng lợi, ông chạy vội về nhà gọi "mệ", hốt hoảng không thấy trong khi bà tôi còn đi gặt tận trong Bọ Bàu.

Lần hai, ông về, bà nội tôi đã mất. Cả nhà dẫn ông vào tận Hòn Lửa để thắp hương, báo với người: Anh cu Nhu (con trai đầu lòng thì gọi là cu, con gái gọi hoe) đã về.

Còn khi tôi và chú em lần lượt nhập ngũ, mẹ tôi đều tiễn con theo cách của bà: nói gọn một câu và ngay lập tức bắt tay vào việc đang làm dở. Ừ, mẹ chỉ nói vậy mà sao lúc nào anh em tôi cũng nhớ như in: "Con đi, khỏe hây!".

May mắn thay, nhà tôi không ai hề hấn gì bởi bom đạn dù bố tôi là thương binh nhẹ. Cũng không có câu chuyện ly kỳ, ác liệt nào được bố tôi hay anh em tôi kể lại làm trố mắt người làng. Có chăng, chỉ lại là những việc làm hình như đã thấy, đã gặp ở nhiều nơi.

Mẹ tôi mách, có chú quê ở Lĩnh Sơn, Anh Sơn thăm bố, biếu cân đường, hộp sữa, rồi "Xin phép thủ trưởng, em đi!". Bố mày khoe, "Chú ấy là Anh hùng đấy, tau huấn luyện ngày xưa".

Tạt qua nhà, chú em đi vắng, mẹ tôi bảo, nó đi đám tang bố người bạn cùng đơn vị. Tôi cũng vừa đi ăn cưới con chú vệ binh thổi kèn ở Bộ tư lệnh dạo ấy về. Chú ấy kỳ kèo, anh ra cho em tự hào có bạn là người của công chúng, cả xóm dòm cho mà coi.

Chao ôi, trách chi mình già, chúng nó mà đã làm ông nội, ông ngoại, tóc đốm, răng ê rồi...

Vậy đấy, ba người lính quèn không làm lính nữa như bao người lặng lẽ khác, nhưng những gì là của lính, làm nên lính thì thời gian, năm tháng cứ tươi xanh thăm thẳm...