Quan hệ giữa Ấn Độ và Trung Quốc bị kìm hãm theo nhiều hướng. Các mối liên hệ văn hóa giữa hai nước từng tồn tại từ rất lâu, từ những nghiên cứu thiên thực cho tới những bài thánh ca của đạo Phật, nhưng ngày nay khó có ai nhớ đến nó. Chuyên gia kinh tế đoạt giải Nobel, Amartya Sen, đã than phiền như vậy.

Sau một thời gian yêu mến nhau trong những năm 1950, Trung Quốc đã tấn công Ấn Độ trong một cuộc chiến tranh biên giới năm 1962, và kể từ đó hai bên tiếp tục tranh cãi nhau về đường biên giới ở khu vực núi cao. Người Ấn Độ ghen tị với sự nổi lên về kinh tế của Trung Quốc, nhưng tự an ủi mình bằng cách chỉ trích rằng Trung Quốc thiếu dân chủ. Ngoài biểu hiện khô khan của tình anh em tại các hội nghị thượng đỉnh, mà gần đây nhất là diễn đàn G20 tại Mexico ngày 18-19/6, Trung Quốc dường như không nghĩ nhiều đến Ấn Độ. Dòng vốn đầu tư không đáng kể. Vẫn chưa có đường bay trực tiếp giữa Bắc Kinh hay Thượng Hải với Mumbai - trung tâm thương mại của Ấn Độ.

Và một thay đổi lớn đã diễn ra trong cấu trúc thương mại của Ấn Độ. Khi Ấn Độ bắt đầu tự do hóa nền kinh tế của mình năm 1991, phương Tây vẫn còn chế ngự nền kinh tế toàn cầu, và vì vậy Ấn Độ hướng tới phương Tây để làm thương mại. Nhưng sự nổi lên của Trung Quốc hiện đã thay đổi mọi thứ - đối với cả Ấn Độ. Trung Quốc hiện là đối tác thương mại hàng hóa lớn thứ ba của Ấn Độ, và là lớn nhất nếu tính cả Hong Kong. Đối với các nước láng giềng Đông Á của Trung Quốc, việc giao thương chủ đạo với Trung Quốc là một việc quá quen, nhưng người Ấn Độ vẫn cố để quen dần với điều này.

Trên thực tế, tăng cường thương mại với Trung Quốc tốt cho Ấn Độ. Nước này nhập khẩu các loại hàng hóa chính từ Trung Quốc, với việc các công ty được hưởng thiết bị giá rẻ và tốt. Tập đoàn khổng lồ Reliance Group đã mua các trang thiết bị cho các trạm phát điện và mạng lưới viễn thông - một phần tiền chi trả lấy từ các khoản cho vay cạnh tranh của Trung Quốc. Các công ty Trung Quốc thường giành phần thắng trong các thương vụ như vậy.


Ảnh minh họa

Nhưng đối với Ấn Độ, mối liên kết với Trung Quốc cũng làm họ bối rối. Cứ mỗi đôla hàng xuất khẩu sang Trung Quốc, Ấn Độ lại nhập tới 3 đôla, tạo ra một mức thâm hụt thương mại lên tới 40 tỷ USD tính đến tháng 3/2012, chiếm 2% GDP. Trung Quốc chiếm 1/5 tổng thâm hụt thương mại của Ấn Độ với thế giới, và chiếm một nửa nếu không kể dầu mỏ. Trước những vấn đề trong cán cân thanh toán của Ấn Độ (cụ thể là đồng rupee đã giảm giá 1/5 trong năm 2011) ngay cả các thương nhân Trung Quốc cũng lo ngại rằng sự không nhất quán trong thương mại song phương là không lành mạnh.

Và chuyện này đang ngày một lớn. Ban đầu, sản xuất hàng hóa quy mô nhỏ của Ấn Độ có xu hướng là hàng khá tinh tế. Khi các công ty Trung Quốc chuyển sang các dạng sản xuất phức tạp hơn, họ sẽ khó sống hơn các công ty Ấn Độ. Saif Qureishi của công ty Kryfs chuyên sản xuất lõi biến thế sử dụng trong mạng lưới điện, cho biết Trung Quốc đã chiếm 1/3 thị trường biến thế của Ấn Độ và sẽ hạ gục các công ty địa phương.

Trong khi đó, Ấn Độ không sản xuất nhiều hàng mà Trung Quốc muốn mua, một lỗ thủng mà các quy định thời thuộc địa của Anh từng nút lại với việc xuất khẩu thuốc phiện của Ấn Độ. Xuất khẩu chính của Ấn Độ ngày nay sang Trung Quốc chỉ là nguyên liệu đầu vào, chủ yếu là khoáng sản và bông. Nhưng thành công của các loại hàng xuất khẩu này không ổn định. Trong hai năm qua, các dòng sông chảy xuống Goa ở bờ biển phía Tây Ấn Độ đã tràn ngập các xà lan chở vàng quặng bán sang Trung Quốc. Nhưng một vụ trấn áp cuối năm 2011 về khai thác mỏ bất hợp pháp đã khiến khối lượng sụt giảm 1/5. Tháng Ba vừa qua, Ấn Độ đã cấm xuất khẩu bông vì lo ngại thiếu mặt hàng này phục vụ nhu cầu trong nước.

Ấn Độ trên thực tế chủ trương thúc đẩy bảo hộ. Do không có thỏa thuận tự do thương mại song phương với Trung Quốc nên Ấn Độ thường cộng thêm thuế vào hàng nhập khẩu của Trung Quốc, gần đây nhất là thiết bị điện. Doanh số bán hàng của công ty viễn thông Huawei tại Ấn Độ bị sụt giảm một nửa sau khi vấp phải thuế chống bán phá giá và bị gán mác nguy cơ an ninh. Các công ty của Trung Quốc cũng than phiền những khó khăn về thị thực.

Hơn thế, Ấn Độ muốn thúc đẩy xuất khẩu sang Trung Quốc. Tại hội nghị thượng đỉnh G20, họ đã đạt một thỏa thuận tăng hạn ngạch bán gạo. Ấn Độ cũng muốn các công ty hàng đầu trong các ngành công nghiệp, trong đó có dược, sản xuất xe hơi và IT tiếp cận tốt hơn vào thị trường Trung Quốc. Tuy nhiên, điều tốt cho các công ty đa quốc gia của Ấn Độ có thể không phải là tạo công ăn việc làm mới hay ngoại hối cho Ấn Độ. Tata Sons, công ty có hoạt động kinh doanh lớn nhất ở Trung Quốc, chủ yếu bán xe Range Rover, sản xuất tại Anh, và các dịch vụ IT mà sử dụng chủ yếu nhân công là người địa phương ở Trung Quốc.

Ngoài ra, thâm hụt thương mại cũng có vẻ dừng lại. Nhưng Trung Quốc có thể làm nhiều hơn để giúp cho việc này nếu có cơ hội. Thêm nhiều khoản vay từ các ngân hàng Trung Quốc có thể là tốt - nhưng Ấn Độ vẫn lo lắng, và chỉ một ngân hàng Trung Quốc được phép mở chi nhánh tại đây. Nhiều đầu tư trực tiếp nước ngoài hơn nữa cũng có thể hữu ích. Năm 2011, Narendra Modi, Thủ hiến bang Gujarat, đã thăm Trung Quốc để thúc đẩy đầu tư. Ấn Độ dường như thường coi FDI là món quà của mình các công ty đa quốc gia phương Tây.

Không cần phải thế. Bang Maharashtra đã trở thành nơi đặt một trong các nhà máy đầu tiên của Trung Quốc tại Ấn Độ, chuyên sản xuất máy đào và các loại máy xây dựng khác. Ông Richard Deng, chủ công ty Sany này cho biết đã đầu tư 70 triệu USD và tuyển dụng 460 nhân công địa phương và dự kiến sẽ tăng gấp đôi quy mô công ty. Chủ ngân hàng Exim Bank của Ấn Độ, T.C.A. Ranganathan cho biết đã có 10 công ty Trung Quốc đã hoặc đang xây nhà máy ở Ấn Độ, và 100 công ty đã mở văn phòng tại đây.

Bất chấp nỗi lo sợ người nước ngoài thường trực (do khác biệt về văn hóa), các chủ doanh nghiệp Trung Quốc đều đồng ý rằng sẽ mở rộng sản xuất tại đây. Ông Sun Haiyan, của công ty sản xuất thiết bị thiên năng Trina Solar, cho biết là một công ty toàn cầu, Trina Solar phải sản xuất tại từng địa phương. Ông Wu Rong, thuộc công ty viễn thông ZTE, cho biết công ty ông chủ yếu tuyển nhân viên là người bản địa và sẽ gia tăng sản xuất tại Ấn Độ. Trong khi đó, công ty Huawei đang xây dựng một trung tâm nghiên cứu mới tại Bangalore. Lãnh sự Trung Quốc tại Mumbai, Niu Qingbao, cho biết các công ty của Trung Quốc rất ham đầu tư vào cơ sở hạ tầng.

Liệu đây có phải là sự khởi đầu của một làn sóng đầu tư từ Trung Quốc? Ấn Độ cần nguồn vốn, và kinh nghiệm trong sản xuất cũng như cơ sở hạ tầng, từ bên ngoài. Trung Quốc thì có thể đầu tư các nguồn vốn dư thừa của mình ra nước ngoài, không chỉ bằng trái phiếu chính phủ như đã làm với đầu tư vào Mỹ. Đầu tư của Trung Quốc vào Ấn Độ là một ý tưởng hợp thời, chỉ cần hai bên có thể tin tưởng lẫn nhau./.

Châu Giang (theo economist)