Kennedy và Chính phủ của ông rất do dự trước tình hình Cuba. Họ luôn tin rằng muốn lật đổ chế độ Cuba Cách mạng bằng một cuộc xâm lược quân sự, sẽ dẫn đến đối đầu Liên Xô. 

Xem lại Kỳ 1: Mỹ - Cuba: Từ cách mạng 1959 đến ‘Vịnh Con Lợn’

Thất bại của “Liên minh vì tiến bộ” 

Không thể mất uy tín thêm nữa, cùng thất bại “Sự kiện Vịnh Con Lợn” (1961), Kennedy cảm thấy cần thay đổi chính sách nhằm ngăn chặn sự phát triển của CNCS ở Mỹ - Latinh. Nước này chủ trì hai Hội nghị Liên Mỹ họp ở Punta Del Este (Uruguay).  

Tại hội nghị lần thứ nhất (8/1961), Hoa Kỳ hứa hẹn hàng năm sẽ có khoản viện trợ Nhà nước khổng lồ là 1 tỷ đôla cho các nước Mỹ - Latinh. Hệ thống viện trợ tập thể này sẽ được đặt tên là “Liên minh vì tiến bộ.” Tuy nhiên, kế hoạch gặp khó khăn.  

Tại Hội nghị lần thứ 2, tháng 1/1962, tân ngoại trưởng Hoa Kỳ Dean Rusk còn đề nghị khai trừ Cuba ra khỏi “Tổ chức các quốc gia châu Mỹ” vì lý do ở Cuba nay đã tồn tại một Chính phủ độc tài và chế độ của Cuba không phù hợp với các thể chế dân chủ của tổ chức.  

Vì hành động này của Hoa Kỳ, Fidel Castro đã kêu gọi toàn thế giới chống lại chủ nghĩa đế quốc Mỹ. Quan hệ Cuba – Liên Xô được tăng cường về mọi mặt để phần nào giảm bớt khó khăn cho Cuba do bao vây kinh tế của Mỹ. 

{keywords}

Năm 1962, Cuba đồng ý để Liên Xô mang tên lửa tới hòn đảo của mình. Ảnh: Getty

Kennedy và học thuyết Monroe. Vai trò của Liên Xô ngày càng tăng 

Kennedy và Chính phủ của ông rất do dự trước tình hình Cuba. Họ luôn tin rằng muốn lật đổ chế độ Cuba Cách mạng bằng một cuộc xâm lược quân sự, sẽ dẫn đến đối đầu Liên Xô, vì Liên Xô đã cam kết bảo vệ Cuba. Nếu hậu thuẫn lật đổ, thì cũng sẽ dẫn đến kết quả tương tự.

Do đó, biện pháp chống Cuba của Kennedy mới chỉ dừng ở mức cấm vận hàng hóa vào Cuba, chứ chưa đến mức phong tỏa Cuba, hành động được coi là chiến tranh [1].  

Chính sách của Hoa Kỳ vẫn tiếp tục trung thành với “Học thuyết Monroe” – chống sự can thiệp của nước châu Âu, nay mở rộng thành các nước “không Mỹ” vào nước Mỹ [2]. Quốc hội Hoa Kỳ còn quyết nghị nếu cần sẽ sử dụng vũ lực để ngăn chặn bất cứ hành động xâm lược hoặc lật đổ nào ở Tây bán cầu.  

Báo chí Mỹ liên tục đăng tải những bài viết rất thù địch chống Cuba. Hoa Kỳ thường xuyên cho máy bay U2 bay do thám trên vùng trời Cuba, gọi thêm 150.000 quân dự bị và cho phép những người Cuba lưu vong được gia nhập quân đội Hoa Kỳ, tất cả đều làm căng thẳng thêm tình hình. 

Tình hình ngày càng căng thẳng đẩy Cuba vào tình thế phải tìm kiếm một liên minh khăng khít hơn nữa, nhất là về quân sự. Mùa hè năm 1962, Raoul Castro cùng Che Guevara sang Moscow, yêu cầu “Liên Xô cần có hỗ trợ hơn nữa để bảo vệ Cuba trước sự xâm lược của Đế quốc Mỹ.” Đề nghị này nhận được sự đồng ý của Tổng bí thư Đảng cộng sản Liên Xô, Nikita Khrushchev.  

Trang thiết bị, khí tài, vũ khí và chuyên gia quân sự Liên Xô bắt đầu có mặt ở Cuba, xây dựng các căn cứ quân sự (tên lửa) ở đây và dẫn dắt chúng ta vào một sự kiện mới: 

Cuộc “Khủng hoảng tên lửa Cuba” 

Ngày 2/9/1962, hai nước đã ra thông cáo chung Liên Xô – Cuba với nội dung “Liên Xô sẽ cung cấp vũ khí và huấn luyện quân sự cho Cuba”, nhưng không hàm ý có vũ khí có thể tấn công Hoa Kỳ.  

Ngày 14/10/1962, một máy bay U2 tiến hành cuộc hành trình bay do thám. Hai ngày sau, tổng thống Kennedy được báo cáo về việc có dàn phóng tên lửa được xây dựng trên đất Cuba. “Hội đồng an ninh quốc gia Hoa Kỳ” đã được nhóm họp và trước mắt họ có các lựa chọn: 

(1) Tấn công Cuba, tiêu diệt các tên lửa Liên Xô triển khai trên lãnh thổ Cuba, đồng nghĩa với chiến tranh.  

(2) Dùng máy bay ném bom tiêu diệt tên lửa Liên Xô – một kế hoạch đầy rủi ro vì có thể nó không đạt được kết quả như mong muốn.  

(3) Tổ chức phong tỏa cục bộ xung quanh Cuba ngăn không cho Liên Xô đưa vũ khí nguyên tử vào Cuba và đồng thời, đưa cho Liên Xô “tối hậu thư” để Liên Xô từ bỏ kế hoạch xây dựng dàn phóng tên lửa mang đầu đạn hạt nhân ở Cuba. 

Về kế hoạch thứ ba này, Hoa Kỳ có đầy đủ năng lực thực hiện và “đá được quả bóng sang sân của Liên Xô”. Nghĩa là quyết định như thế nào, đều phụ thuộc vào phía Liên Xô cả: có tiếp tục cho các tàu chở hàng (có tàu ngầm hộ tống) đi tiếp hay không, hoặc thậm chí “liều” cho Hoa Kỳ khám tàu. Đây là một kế hoạch thụ động, nhưng lại có khả năng thành công lớn.  

Ngày 22/10/1962, tổng thống Hoa Kỳ Kennedy đã đọc một bài diễn văn rất quan trọng trên truyền hình: “Như đã hứa, Chính phủ ta đã giám sát một cách chặt chẽ nhất các hoạt động quân sự của Liên Xô trên đảo Cuba. Tuần qua, đã có các chứng cớ không thể bác bỏ được chứng tỏ một loạt bệ phóng tên lửa tấn công đã được xây dựng trên hòn đảo tù túng đó. Mục đích của căn cứ này chỉ có thể nhằm tạo ra một lực lượng quân sự chống lại Tây bán cầu”.  

“Việc nhanh chóng biến Cuba thành một căn cứ chiến lược quan trọng thông qua sự có mặt của những vũ khí lớn tầm xa và rõ ràng có sức công phá mạnh nhằm hủy diệt hàng loạt là một sự đe dọa trắng trợn đối với hòa bình và an ninh của toàn bộ Châu Mỹ. Quyết định bí mật và bất ngờ đặt vũ khí chiến lược lần đầu tiên ở ngoài lãnh thổ Liên Xô là một sự thay đổi nguyên trạng, cố tình khiêu khích và vô căn cứ mà đất nước chúng ta không thể chấp nhận…”. 

Kennedy trước hết thông báo cho dân chúng Mỹ, sau đó là các đồng minh và trao tối hậu thư cho Chính phủ Liên Xô. Các chứng cớ về tên lửa Liên Xô triển khai ở Cuba được công bố trên toàn thế giới.  

{keywords}

Fidel Castro tới Moscow năm 1963 trong vai trò là khách mời của lãnh đạo Liên Xô lúc bấy giờ Nikita Khrushchev. Ảnh: BBC

Liên Xô phản ứng như thế nào?  

Trước đây khi trả lời câu nói của Mao Trạch Đông “đế quốc Mỹ là con hổ giấy”, Tổng bí thư ĐCS Liên Xô, Nikita Khrushchev đã trả lời: “Nhưng mà con hổ giấy ấy nó có răng nguyên tử.” Hơn ai hết, ông ý thức được rất rõ khả năng chiến tranh thế giới lần thứ ba và hậu quả khủng khiếp của nó.   

Nikita đã có trao đổi thư từ trực tiếp với Tổng thống Hoa Kỳ và họ đã tìm được tiếng nói chung. Thỏa thuận của hai siêu cường là Liên Xô sẽ rút các tên lửa đã triển khai ở Cuba dưới sự kiểm soát của các quan sát viên Liên hiệp quốc (LHQ), cam kết sẽ không đưa chúng quay trở lại. Ngược lại, Hoa Kỳ cũng phải cam kết sẽ không dùng vũ lực với Cuba.  

Cho rằng bị đẩy vào tình thế “các nước lớn thảo luận về nước nhỏ không thông qua nước nhỏ,” Fidel Castro phản ứng khá dữ. Ông không đồng ý với thỏa thuận của Khrushchev với Kennedy và đưa ra yêu sách 5 điểm:

1. Chấm dứt phong tỏa kinh tế.

2. Chấm dứt các hoạt động lật đổ bằng quân nhảy dù và bằng tàu vận chuyển vũ khí, chấm dứt các hoạt động gián điệp và phá hoại đối với Cuba.

3. Chấm dứt các cuộc tiến công kẻ cướp bằng máy bay xuất phát từ Hoa Kỳ.

4. Chấm dứt việc cho máy bay xâm phạm không phận Cuba.

5. Hoa Kỳ rút quân khỏi căn cứ hải quân Guantanamo.   

Hoa Kỳ đương nhiên không đồng ý với bản yêu sách này, do đó tình hình lại trở nên bế tắc, gây khó xử cho Liên Xô vì khó khăn đến từ phía đồng minh. Ngày 19/11, Phó chủ tịch thứ nhất Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô Anastas Ivanovich Mikoyan tới Cuba. Sau 11 ngày bàn thảo với Fidel, cuối cùng họ đã đạt được sự đồng ý của phía Cuba cho tháo dỡ các dàn tên lửa đã lắp đặt tại Cuba và chở về bằng máy bay, nhưng không chấp thuận cho các quan sát viên LHQ vào giám sát.  

Trước tình hình đó, Hoa Kỳ tuyên bố rút lời hứa không tấn công Cuba và tiến hành giám sát việc Liên Xô rút tên lửa về bằng không quân. Chỉ đến ngày cuối cùng trong chuyến công tác của Mikoyan, Cuba mới đồng ý cho quan sát viên LHQ vào giám sát tại chỗ, nhưng Hoa Kỳ vẫn không đưa lời hứa trước đây quay trở lại, tuy nhiên vẫn có những hành động hàm ý họ sẽ không tấn công Cuba. Hành động này của Cuba đã làm cho quan hệ Cuba – Liên Xô không còn được mỹ mãn như lúc ban đầu.

(Còn tiếp)

Phúc Lai (tổng hợp)

-----

Tài liệu tham khảo:

“Lịch sử quan hệ ngoại giao từ 1919 đến nay” – Jean Baptiste Duroselle, những người dịch Lưu Đoàn Huynh, Quách Ngọc Bảo; bản xuất bản của Học viện Quan hệ quốc tế (nay là học viện Ngoại giao), 1994. Có tham khảo thêm bản pdf “Histoire diplomatique de 1919 à nos jours” Paris, Dalloz, 1974, 871 trang.

“Quan hệ Cuba – Hoa Kỳ” – BBC bản tiếng Anh (“US-Cuba relations”) 11/10/2012.

----

[1] Phong tỏa là cho tàu chiến ngăn các tàu hàng, thương mại… vào cảng Cuba.

[2] “The Monroe Doctrine” được đưa ra vào năm 1823 bởi tổng thống Hoa Kỳ James Monroe.