


Sau khi mở rộng không gian phát triển với sự kết nối giữa biển, cao nguyên và biên giới, Gia Lai đang bước vào một giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cao hơn về tốc độ, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh. Quy hoạch tỉnh Gia Lai thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 được điều chỉnh và chính thức phê duyệt đã xác lập một cấu trúc phát triển mới, trong đó mục tiêu tăng trưởng GRDP bình quân khoảng 10,5%/năm giai đoạn 2026-2030 được xem là một trong những nhiệm vụ trọng tâm.
Theo Quyết định số 3106/QĐ-UBND ngày 23/7/2026 của UBND tỉnh Gia Lai, phạm vi quy hoạch mới bao gồm toàn bộ địa giới hành chính tỉnh với diện tích tự nhiên 21.576,53 km² và 135 đơn vị hành chính cấp xã. Không gian mới tạo điều kiện để Gia Lai khai thác đồng thời lợi thế của vùng duyên hải, cao nguyên, cửa khẩu quốc tế, hệ thống cảng biển, sân bay và các hành lang giao thông chiến lược.
Quy hoạch điều chỉnh không đơn thuần là cập nhật lại các chỉ tiêu sau sắp xếp đơn vị hành chính, mà hướng tới một sự thay đổi căn bản về tư duy tổ chức không gian và mô hình tăng trưởng. Từ một địa phương có thế mạnh truyền thống về nông nghiệp, năng lượng và du lịch, Gia Lai đặt mục tiêu hình thành một nền kinh tế đa động lực, có mức độ liên kết cao hơn giữa biển - cao nguyên - biên giới, giữa sản xuất nguyên liệu với công nghiệp chế biến, giữa logistics với cảng biển, sân bay và cửa khẩu.

Mục tiêu tăng trưởng GRDP khoảng 10,5%/năm trong giai đoạn 2026-2030 là một bước nâng cao đáng kể về yêu cầu phát triển. Theo quy hoạch, tốc độ tăng trưởng bình quân của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản được xác định khoảng 5%/năm; công nghiệp - xây dựng khoảng 13%/năm và dịch vụ khoảng 10,5%/năm. Đến năm 2030, GRDP bình quân đầu người theo giá hiện hành phấn đấu đạt khoảng 5.900-6.000 USD; tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn vượt 41.000 tỷ đồng và tổng kim ngạch xuất khẩu giai đoạn 2026-2030 đạt trên 17 tỷ USD.
Đây là những chỉ tiêu cho thấy Gia Lai không chỉ đặt trọng tâm vào tăng quy mô nền kinh tế mà còn hướng tới chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế. Đến năm 2030, công nghiệp - xây dựng dự kiến chiếm khoảng 38,6% cơ cấu kinh tế; dịch vụ khoảng 39%; nông, lâm nghiệp và thủy sản khoảng 19,2%. Kinh tế số được kỳ vọng đóng góp khoảng 30% GRDP, trong khi kinh tế biển chiếm khoảng 20%. Tỉnh cũng đặt mục tiêu đón khoảng 18,5 triệu lượt khách du lịch trong cả giai đoạn 2026-2030, trong đó khoảng 1,1 triệu lượt khách quốc tế.

Những mục tiêu này có cơ sở từ quá trình tái tổ chức không gian phát triển. Để đạt tăng trưởng hai con số, tỉnh Gia Lai phải đồng thời đổi mới tư duy quản trị, khơi thông nguồn lực và xây dựng hệ thống hạ tầng đồng bộ. Kế hoạch thực hiện mục tiêu tăng trưởng cũng được cụ thể hóa đến từng xã, phường, gắn chỉ tiêu với từng ngành, từng địa bàn và từng dự án động lực.
Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo được xác định là động lực quan trọng. Gia Lai có điều kiện phát triển các ngành chế biến sâu dựa trên vùng nguyên liệu nông nghiệp quy mô lớn, đồng thời mở rộng không gian công nghiệp dọc các tuyến giao thông chiến lược. Năng lượng tái tạo, năng lượng sạch cũng được định hướng trở thành một lĩnh vực quan trọng, phù hợp với xu thế chuyển đổi xanh và nhu cầu phát triển các ngành công nghiệp mới.
Nông nghiệp vì thế cũng phải chuyển từ tư duy sản xuất sang tư duy kinh tế nông nghiệp. Các vùng trồng chủ lực được định hướng ứng dụng công nghệ cao, xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn, tăng cường liên kết chuỗi và chế biến sâu để nâng giá trị gia tăng, phục vụ cả thị trường trong nước và xuất khẩu. Đây là hướng đi đặc biệt quan trọng khi mục tiêu tăng trưởng 10,5% không thể chỉ dựa vào mở rộng quy mô mà phải dựa ngày càng nhiều vào năng suất, công nghệ và giá trị gia tăng.
Ở góc độ vùng, định hướng này phù hợp với Điều chỉnh Quy hoạch vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tháng 4/2026. Quy hoạch vùng nhấn mạnh liên kết biển - cao nguyên - biên giới, phát triển hạ tầng giao thông Đông - Tây, logistics, công nghiệp chế biến, năng lượng, nông nghiệp công nghệ cao và nguồn nhân lực chất lượng cao. Gia Lai, với vị trí nằm trong không gian liên kết này, có cơ hội phát huy mạnh hơn vai trò kết nối vùng.
Đặc biệt, hệ thống giao thông đang trở thành một trong những điều kiện then chốt để chuyển lợi thế địa lý thành lợi thế kinh tế. Tuyến cao tốc Quy Nhơn - Pleiku dài khoảng 125 km, tổng mức đầu tư dự kiến 43.734 tỷ đồng, được triển khai trong giai đoạn 2025-2029, sẽ tạo thêm một trục kết nối quan trọng giữa khu vực duyên hải với cao nguyên.

Điểm nổi bật nhất trong điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Gia Lai là mô hình tổ chức không gian “Ba trục hành lang động lực - Hai khu kinh tế - Ba khu vực động lực - Bốn vùng kinh tế”. Đây được xem là khung xương để tỉnh phân bổ nguồn lực, lựa chọn các ngành ưu tiên và hình thành các cực tăng trưởng trong giai đoạn mới.
Ba trục hành lang động lực gồm hành lang Đông - Tây theo hướng Quốc lộ 19 và cao tốc Quy Nhơn - Pleiku; hành lang kinh tế biển phía Đông gắn với hệ thống cao tốc, quốc lộ, đường sắt và tuyến ven biển; hành lang phía Tây dựa trên Quốc lộ 14, Quốc lộ 25, sân bay Pleiku và các tuyến giao thông liên vùng. Hai khu kinh tế giữ vai trò hạt nhân là Khu kinh tế Nhơn Hội và Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Lệ Thanh.
Cấu trúc này mở ra một cách tiếp cận mới: không gian biển không tách rời không gian cao nguyên. Cảng biển, sân bay, khu kinh tế, cửa khẩu, vùng nguyên liệu và các trung tâm đô thị được đặt trong cùng một chuỗi liên kết. Từ đó, hàng hóa từ vùng sản xuất có thể kết nối với các trung tâm chế biến, logistics và xuất khẩu; du lịch biển có thể liên kết với du lịch cao nguyên, sinh thái và văn hóa; các đô thị có thể trở thành đầu mối cung cấp dịch vụ chất lượng cao cho toàn vùng.

Ba khu vực động lực được xác định gồm khu vực phía Đông với Quy Nhơn mở rộng - Khu kinh tế Nhơn Hội - sân bay Phù Cát - TOD Diêu Trì; khu vực phía Bắc ven biển với Hoài Nhơn - Phù Mỹ - Đề Gi - TOD Bồng Sơn; và khu vực phía Tây với Pleiku mở rộng - Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Lệ Thanh - Chư Sê - Đak Đoa. Bốn vùng kinh tế được định hướng theo các thế mạnh khác nhau, từ kinh tế tổng hợp ven biển, đô thị, công nghiệp công nghệ cao, logistics đến nông nghiệp sinh thái, du lịch văn hóa, nông nghiệp công nghệ cao và chăn nuôi.
Cùng với đó, Gia Lai định hướng hình thành mạng lưới đô thị đa trung tâm, trong đó Quy Nhơn mở rộng, Pleiku, Hoài Nhơn và An Khê là những đô thị động lực. Đến năm 2030, tỉnh đặt mục tiêu tỷ lệ đô thị hóa trên 45%, qua đó tạo thêm thị trường cho dịch vụ, thương mại, công nghiệp và các ngành kinh tế mới.
Tuy nhiên, mục tiêu tăng trưởng 10,5%/năm cũng đặt ra bài toán rất lớn về nguồn lực. Theo quy hoạch, Gia Lai dự kiến cần huy động khoảng 610.000-650.000 tỷ đồng vốn đầu tư toàn xã hội trong giai đoạn 2026-2030, tương đương khoảng 122.000-130.000 tỷ đồng mỗi năm. Trong đó, khu vực tư nhân và FDI được kỳ vọng đóng góp khoảng 62%, ngân sách nhà nước khoảng 25%, các nguồn ODA, PPP và tín dụng xanh khoảng 13%. Điều đó cho thấy thành công của quy hoạch sẽ phụ thuộc không chỉ vào việc xác định đúng không gian và mục tiêu, mà quan trọng hơn là khả năng tổ chức thực hiện. Hạ tầng phải đi trước một bước; thủ tục hành chính phải tiếp tục được cải cách; đất đai, vốn và các nguồn lực xã hội phải được khơi thông; đồng thời việc thu hút đầu tư phải chuyển mạnh từ “thu hút nhiều” sang “thu hút đúng”, ưu tiên các dự án có công nghệ, năng suất và giá trị gia tăng cao.
Từ góc nhìn dài hạn, điều chỉnh Quy hoạch tỉnh lần này đang đặt Gia Lai trước một cơ hội có tính bước ngoặt. Nếu tổ chức thực hiện hiệu quả, lợi thế biển - cao nguyên - biên giới có thể được chuyển hóa thành một hệ sinh thái kinh tế liên kết, tạo ra nhiều cực tăng trưởng thay vì phụ thuộc vào một vài khu vực truyền thống.

Khi quy hoạch được chuyển hóa thành các dự án cụ thể, các tuyến giao thông mới, các khu công nghiệp hiện đại, vùng nguyên liệu lớn, sản phẩm du lịch có sức cạnh tranh và nguồn nhân lực chất lượng cao, Gia Lai mới có thể biến không gian phát triển mới thành động lực tăng trưởng thực chất, bền vững.
Tầm nhìn đến năm 2050, Gia Lai hướng tới trở thành một tỉnh giàu có, đáng sống của vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, với đô thị hiện đại, nông thôn sinh thái, kinh tế biển phát triển và vị thế ngày càng rõ trong mạng lưới liên kết khu vực. Quy hoạch mới chính là bước khởi đầu để hiện thực hóa tầm nhìn đó.