Một buổi sáng cuối năm 2025, giữa những triền đồi ở làng Tăng Lăng (xã Krong), ông Đinh Doăn đứng giữa vườn cà phê xen mắc ca đang vào vụ thu hoạch. Ít ai biết chỉ vài năm trước, gia đình ông vẫn thuộc diện cận nghèo, quanh năm trồng bắp, mì, thu nhập bấp bênh, luôn thấp thỏm trước mỗi mùa hạn.

Điều làm thay đổi cuộc sống của gia đình ông không phải một khoản hỗ trợ lớn, mà bắt đầu từ những buổi tuyên truyền, tập huấn và những lần cán bộ nông nghiệp xuống tận rẫy hướng dẫn cách chuyển đổi cây trồng, tính toán hiệu quả kinh tế và kết nối đầu ra sản phẩm. Từ chỗ ngại thay đổi, ông mạnh dạn chuyển sang trồng cà phê xen mắc ca. Vụ mùa đầu tiên mang lại gần 100 triệu đồng, đủ để gia đình thoát cận nghèo.

“Quan trọng nhất là mình biết làm gì và dám làm”, ông chia sẻ trong câu chuyện được Báo Gia Lai ghi nhận. 

Đó không phải là một câu chuyện riêng lẻ.

Từ Ia Ko đến Vĩnh Sơn, từ KDang đến Chư Sê, hàng nghìn hộ nghèo ở Gia Lai đang bước qua “lằn ranh nghèo đói” bằng một thay đổi quan trọng hơn mọi khoản hỗ trợ vật chất: thay đổi nhận thức.

Gia Lai là tỉnh có địa bàn rộng, tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số cao, nhiều xã vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới. Nghèo ở Gia Lai không chỉ là thiếu thu nhập mà còn là thiếu thông tin, thiếu kỹ năng, thiếu cơ hội tiếp cận thị trường và dịch vụ xã hội cơ bản.

Nhận diện đúng nguyên nhân ấy, tỉnh xác định truyền thông giảm nghèo không còn dừng ở tuyên truyền chính sách, mà trở thành một hợp phần quan trọng của phát triển bền vững.

Kế hoạch số 30/KH-UBND năm 2026 nêu rõ mục tiêu: đa dạng hóa hình thức tuyên truyền, giới thiệu mô hình hiệu quả, tấm gương thoát nghèo tiêu biểu; khơi dậy ý chí, khát vọng vươn lên của mỗi địa phương, mỗi hộ gia đình, đồng thời động viên người dân xóa bỏ tư tưởng muốn ở lại hộ nghèo để hưởng chính sách. Thông điệp ấy được cụ thể hóa bằng nhiều cách làm gần dân.

Ở xã Ia Ko, mỗi cán bộ phụ trách giảm nghèo được giao theo dõi từng làng, từng nhóm hộ. Không chỉ phổ biến chính sách, họ cùng người dân tính toán chi phí sản xuất, lựa chọn cây trồng, hướng dẫn vay vốn Ngân hàng Chính sách xã hội, kết nối các lớp đào tạo nghề.

Một buổi tuyên truyền không kết thúc ở hội trường mà tiếp tục trên rẫy cà phê, trong chuồng bò, bên những mô hình chăn nuôi dê hay trồng cây ăn quả.

Điều thay đổi đầu tiên không phải thu nhập. Mà là suy nghĩ: “Có thể thoát nghèo bằng chính sức mình.”

Năm 2025, Ia Ko giảm hơn 100 hộ nghèo, vượt chỉ tiêu được giao.

Gia đình chị Siu Hloan ở làng O Bung từng sống trong căn nhà tạm, chỉ dựa vào vài sào mì và bắp. Sau khi được hỗ trợ bò sinh sản, nhà ở và hướng dẫn chuyển đổi cây trồng sang cà phê, chị mạnh dạn vay vốn mở rộng sản xuất.

Điều đáng nói, chính quyền không hỗ trợ đại trà mà rà soát từng nguyên nhân nghèo, giao nhiệm vụ cụ thể cho từng tổ chức đoàn thể đồng hành với từng hộ. Mỗi hộ có một “lộ trình thoát nghèo”, thay vì chỉ nhận hỗ trợ rồi tự xoay xở.

Đó là cách làm đang được nhân rộng ở nhiều địa phương của Gia Lai.

Ở xã KDang, nhiều tổ tiết kiệm và vay vốn lập nhóm Zalo để chia sẻ lịch giải ngân, hướng dẫn kỹ thuật trồng keo, chăn nuôi dê, phòng bệnh cho gia súc và thông tin thị trường.

Bà Đinh Thị Niên, sau khi vay vốn trồng rừng và nuôi dê thành công, lại trở thành người hướng dẫn những hộ khác.

Thông tin không còn truyền một chiều từ chính quyền xuống người dân. Thông tin được lan truyền trong cộng đồng. Đó là “giảm nghèo thông tin” theo đúng nghĩa hiện đại: chia sẻ tri thức để tạo sinh kế.

Làng Tăng Lăng hôm nay phủ kín cà phê, mắc ca và cây ăn quả. Từ vài hộ mạnh dạn chuyển đổi, cả làng học theo. Người dân tin vì họ nhìn thấy người thật, việc thật.

Đó cũng là kinh nghiệm được nhiều già làng ở Krong chia sẻ: muốn bà con thay đổi thì phải có mô hình ngay trong làng, ngay trong buôn.

Thông tin trở thành niềm tin khi được chứng minh bằng kết quả thực tế.

Một trong những hình ảnh gây xúc động nhất trong công cuộc giảm nghèo ở Gia Lai không phải lễ trao bò giống hay trao nhà Đại đoàn kết. Đó là những lá đơn xin ra khỏi diện hộ nghèo.

Ở xã Vĩnh Sơn, nhiều hộ người Bana chủ động đề nghị chính quyền đưa gia đình mình ra khỏi danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo.

Gia đình chị Đinh Thị Kana là một trong những trường hợp như vậy.

Cuộc sống chưa thật dư dả, nhưng chị cho rằng mình đã có khả năng lao động và muốn nhường nguồn lực cho những hộ khó khăn hơn.

Đó là một sự thay đổi rất lớn trong nhận thức. Không còn tâm lý giữ hộ nghèo để tiếp tục hưởng hỗ trợ. Không còn suy nghĩ “nghèo cũng được”. Thay vào đó là lòng tự trọng và khát vọng vươn lên.

Để tạo chuyển biến bền vững, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Gia Lai ban hành Chỉ thị số 16-CT/TU về tiếp tục triển khai Cuộc vận động “Làm thay đổi nếp nghĩ, cách làm trong đồng bào dân tộc thiểu số để từng bước vươn lên thoát nghèo bền vững”.

UBND tỉnh sau đó ban hành Kế hoạch 274/KH-UBND nhằm cụ thể hóa chỉ thị trên toàn tỉnh.

Cuộc vận động hướng tới những thay đổi rất cụ thể: Không trông chờ, ỷ lại vào chính sách; Biết tiết kiệm, biết tích lũy; Biết tính toán hiệu quả sản xuất; Chủ động học nghề, tìm việc làm; Tham gia hợp tác xã, tổ hợp tác, liên kết sản xuất.

Đây không chỉ là khẩu hiệu. Mỗi địa phương phải lựa chọn những hộ tiêu biểu, xây dựng mô hình điểm và giao trách nhiệm cho cán bộ, đoàn thể đồng hành.

Kinh nghiệm này được tỉnh xác định tiếp tục phát huy trong giai đoạn 2026-2030, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Nếu năm 2021, giảm nghèo ở Gia Lai còn là bài toán rất khó thì đến cuối năm 2025, bức tranh đã thay đổi rõ nét.

Hiện toàn tỉnh Gia Lai còn 18.567 hộ nghèo, chiếm 2,18%; Có 9.802 hộ thoát nghèo trong năm. Riêng đồng bào dân tộc thiểu số có 8.085 hộ thoát nghèo; Tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số giảm 4,58 điểm phần trăm so với năm trước. 

Đằng sau những con số ấy là hàng nghìn mô hình sinh kế: trồng cà phê xen mắc ca; chăn nuôi bò sinh sản; nuôi dê; trồng rừng kinh tế; sản xuất cây ăn quả; phát triển hợp tác xã nông nghiệp.

Đặc biệt, các chương trình tín dụng chính sách được gắn chặt với hướng dẫn sử dụng vốn và đào tạo nghề.

Một điểm mới trong giai đoạn hiện nay là ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và truyền thông giảm nghèo.

Theo Kế hoạch 30/KH-UBND, Gia Lai yêu cầu ứng dụng cơ sở dữ liệu số để theo dõi hộ nghèo, hạn chế trùng lặp, nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm người dân tiếp cận đầy đủ dịch vụ xã hội cơ bản, trong đó có dịch vụ thông tin.

Đây là bước chuyển từ “hỗ trợ bằng giấy tờ” sang “quản trị giảm nghèo bằng dữ liệu”.

Đồng thời, tỉnh đặt yêu cầu các cơ quan báo chí, Báo và Phát thanh - Truyền hình Gia Lai tăng cường phát hiện, tuyên truyền mô hình hay, nhân tố mới và gương thoát nghèo tiêu biểu.

Điều này cũng phù hợp với định hướng của Bộ Nông nghiệp và Môi trường trong Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2030: truyền thông phải đi trước một bước để người dân hiểu chính sách, biết quyền lợi, biết trách nhiệm và biết cách tham gia phát triển kinh tế.

Gia Lai bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cao hơn nhiều so với trước.

Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030 xác định nâng cao đời sống nhân dân, phát triển xanh, phát triển bao trùm và đưa Gia Lai trở thành tỉnh phát triển khá trong khu vực. 

Trong lĩnh vực giảm nghèo, tỉnh đặt mục tiêu rất cụ thể. 

Mục tiêu năm 2026: Tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh còn 1,43%; Giảm 0,76 điểm phần trăm; Tỷ lệ hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số giảm trên 3%.

Mục tiêu đến năm 2030, theo Kế hoạch thực hiện chuẩn nghèo đa chiều quốc gia giai đoạn 2026-2030: Tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh giảm xuống còn khoảng 0,88%; Hơn 36.000 hộ dự kiến thoát nghèo trong cả giai đoạn; Hạn chế tối đa tái nghèo và phát sinh nghèo; 100% hộ nghèo đủ điều kiện được tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản và tín dụng chính sách.Đó là mục tiêu không hề dễ dàng. Bởi những hộ còn lại chủ yếu ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nơi điều kiện tự nhiên và hạ tầng còn nhiều khó khăn.

Trong Kế hoạch 30/KH-UBND và các kết luận điều hành đầu năm 2026, lãnh đạo UBND tỉnh nhấn mạnh công tác giảm nghèo phải chuyển từ hỗ trợ mang tính cấp phát sang hỗ trợ phát triển sinh kế, tạo việc làm và nâng cao năng lực tự thoát nghèo; đồng thời huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị để khơi dậy ý chí vươn lên trong mỗi người dân.

Tinh thần ấy tiếp tục được cụ thể hóa trong Kế hoạch 274/KH-UBND với yêu cầu làm thay đổi nếp nghĩ, cách làm, coi đây là giải pháp trọng tâm để đồng bào dân tộc thiểu số tự tin bước ra khỏi vòng luẩn quẩn của đói nghèo.

Đây cũng là thông điệp mang đậm “chất Gia Lai”: phát triển không chỉ bằng đầu tư, mà bằng sự chuyển biến từ bên trong cộng đồng.

Giảm nghèo bền vững không thể chỉ đo bằng số hộ thoát nghèo mỗi năm. Một hộ thoát nghèo hôm nay nhưng thiếu kỹ năng, thiếu thông tin, thiếu sinh kế ổn định vẫn có thể tái nghèo ngày mai. 

Vì vậy, Gia Lai đang lựa chọn con đường dài hơn nhưng bền vững hơn: trao kiến thức thay vì chỉ trao hỗ trợ; trao cơ hội thay vì chỉ trao nguồn lực; trao niềm tin để người dân dám thay đổi cuộc sống của chính mình.

Câu chuyện của ông Đinh Doăn ở Krong, chị Siu Hloan ở Ia Ko, chị Đinh Thị Kana ở Vĩnh Sơn hay những tổ tiết kiệm và vay vốn ở KDang đều gặp nhau ở một điểm chung: thoát nghèo bắt đầu từ lúc người dân tin rằng mình có thể thoát nghèo.

Thông tin đã trở thành “cây cầu” nối chính sách với cuộc sống. Nhận thức trở thành “động cơ” của phát triển. Và nội lực trở thành “nguồn vốn” lớn nhất của công cuộc giảm nghèo.

Đó cũng là nền tảng để Gia Lai bước vào giai đoạn 2026-2030 với mục tiêu không chỉ giảm nghèo về con số, mà xây dựng những cộng đồng tự lực, tự cường, chủ động làm giàu trên chính quê hương mình - nơi mỗi buôn làng không còn được nhận diện bởi tỷ lệ hộ nghèo, mà bởi những câu chuyện vươn lên của người dân.

Gia Bình