


Con bò được hỗ trợ từ Chương trình mục tiêu quốc gia không còn đơn thuần là một tài sản cứu khó đối với gia đình chị Mang Thị Thanh Thẩn ở làng Kà Xim, xã Vân Canh. Năm 2024, gia đình chị được hỗ trợ 2 con bò lai sinh sản, đồng thời được hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc, phòng trị bệnh, hỗ trợ thức ăn ban đầu.
Đến tháng 3/2026, đàn bò phát triển tốt, một con đã mang thai. Gia đình chị Thẩn đã thoát khỏi danh sách hộ nghèo. Điều đáng nói hơn, khi cuộc sống dần ổn định, người phụ nữ Chăm H’roi ấy không nghĩ tới việc chờ một đợt hỗ trợ tiếp theo. Chị tính chuyện vay thêm vốn để tăng đàn, chủ động mở rộng sinh kế.
Ở làng Kà Xim, mô hình tổ cộng đồng nuôi bò sinh sản cũng được hình thành để các hộ chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ nhau chăm sóc, phòng bệnh. Còn tại xã Vân Canh, 10 dự án phát triển sản xuất cộng đồng về bò sinh sản, dừa hữu cơ, heo đen đã thu hút 183 hộ nghèo, cận nghèo tham gia. Tỷ lệ hộ nghèo của xã từ 11,6% cuối năm 2024 giảm còn 6,07% cuối năm 2025.
Một con bò giống không thể tự giải quyết bài toán nghèo đói. Nhưng khi nguồn lực Nhà nước đi kèm kiến thức, trách nhiệm cộng đồng và ý chí tự vươn lên, nó có thể trở thành vốn liếng đầu tiên của một quá trình thoát nghèo.
Đó cũng là lát cắt cho thấy một chuyển động quan trọng trong cách Gia Lai triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi: không chỉ đưa nguồn lực đến vùng khó, mà từng bước biến nguồn lực ấy thành năng lực phát triển của chính người dân.



Tại xã Phú Túc, riêng năm 2025, hơn 6,4 tỷ đồng từ các chương trình mục tiêu quốc gia được sử dụng triển khai 15 dự án phát triển sản xuất cộng đồng, tạo sinh kế cho 180 hộ, trong đó có 78 hộ nghèo và 102 hộ cận nghèo. Mô hình bò sinh sản theo nhóm hộ cho thấy hiệu quả khi vừa phù hợp điều kiện sản xuất của đồng bào, vừa tạo cơ chế để người dân hỗ trợ, giám sát và chia sẻ kinh nghiệm với nhau.
Những câu chuyện ấy cùng chỉ về một vấn đề: giảm nghèo bền vững phải bắt đầu từ sinh kế bền vững. Nếu đúng hộ, đúng nhu cầu, đúng điều kiện sản xuất; có tập huấn kỹ thuật, tổ chức cộng đồng, tín dụng và đầu ra, thì chính nguồn hỗ trợ ban đầu có thể trở thành “vốn mồi” để hộ nghèo tích lũy tài sản và đứng vững bằng sức mình.
Cũng với tinh thần đầu tư vào năng lực lâu dài, Gia Lai đang dành nguồn lực đáng kể cho giáo dục vùng khó.
Ngày 5/9/2026, tiếng trống khai giảng vang lên tại Trường phổ thông nội trú tiểu học và THCS Ia Púch, một trong những công trình dành cho học sinh vùng biên giới. Với học sinh dân tộc thiểu số, một ngôi trường nội trú không đơn giản là thêm phòng học. Nó giúp rút ngắn quãng đường đến trường, cải thiện điều kiện ăn ở và quan trọng hơn, giảm nguy cơ trẻ em vùng sâu phải bỏ học vì địa hình, khoảng cách và khó khăn gia đình.
Nếu những con đường mở lối cho hàng hóa, nước sạch giải quyết điều kiện sống trước mắt, thì trường học tạo nên con đường phát triển dài hạn nhất: con đường của tri thức và chất lượng nguồn nhân lực. Đó chính là chiều sâu của Chương trình mục tiêu quốc gia: giải quyết thiếu hụt hôm nay nhưng đồng thời phải làm giảm nguy cơ tái nghèo ngày mai.

Ngày 30/6/2026, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Chỉ thị số 16-CT/TU về tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy các cấp trong tiếp tục triển khai Cuộc vận động “Làm thay đổi nếp nghĩ, cách làm trong đồng bào dân tộc thiểu số để từng bước vươn lên thoát nghèo bền vững”. Trang thông tin điện tử Đảng bộ tỉnh đánh giá đây không chỉ là sự tiếp nối một chủ trương đã phát huy tác dụng, mà còn là yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh Gia Lai bước sang giai đoạn phát triển mới sau sáp nhập.
Tinh thần xuyên suốt là chuyển dần từ tâm thế “được Nhà nước hỗ trợ” sang “Nhà nước hỗ trợ để mình tự làm”.

Ở những vùng khó, nhiều hộ nghèo không chỉ thiếu vốn. Họ còn thiếu thông tin thị trường, thiếu kỹ thuật, thiếu khả năng quản trị chi tiêu gia đình hoặc chưa mạnh dạn thay đổi phương thức sản xuất. Bởi vậy, một chương trình giảm nghèo thực sự hiệu quả phải đồng thời xử lý “cái nghèo về nguồn lực” và “cái nghèo về năng lực phát triển”.
Gia Lai hiện có 47 dân tộc cùng sinh sống, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm khoảng 23,9% dân số và có 1.098 người có uy tín. Nghị quyết số 36/2025/NQ-HĐND, có hiệu lực cho giai đoạn 2026 - 2030, tạo thêm cơ chế hỗ trợ lực lượng này.
Một cán bộ có thể giải thích chính sách. Nhưng trong nhiều trường hợp, để một hộ Bahnar, Jrai hay Chăm H’roi thay đổi tập quán sản xuất, bỏ cách làm cũ, mạnh dạn vay vốn hoặc đưa giống mới vào canh tác, tiếng nói của già làng và người có uy tín lại có sức thuyết phục đặc biệt. Họ là cầu nối giữa chính sách và cộng đồng, giữa cái mới và tập quán truyền thống.
Vì vậy, đầu tư cho người có uy tín thực chất cũng là đầu tư cho “hạ tầng mềm” của Chương trình.
Một yêu cầu khác không thể tách rời là phân cấp phải đi đôi với trách nhiệm. Sau hợp nhất và vận hành chính quyền địa phương 2 cấp, cấp xã trở thành nơi trực tiếp hơn trong tổ chức thực hiện nhiều nhiệm vụ phát triển. Bí thư Tỉnh ủy Thái Đại Ngọc khi đánh giá một năm vận hành bộ máy mới nhấn mạnh yêu cầu xây dựng bộ máy “vận hành thông suốt”, đồng thời phát huy tinh thần gần dân, sát việc, rõ trách nhiệm. Đặt vào Chương trình mục tiêu gia, yêu cầu ấy càng có ý nghĩa.
Ở tầm rộng hơn, Bí thư Tỉnh ủy Thái Đại Ngọc nhiều lần nhấn mạnh mục tiêu phát triển Gia Lai phải dựa trên sự “đoàn kết, đồng tâm, hiệp lực” của cả hệ thống chính trị và nhân dân các dân tộc.
Với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, “đồng tâm, hiệp lực” phải được cụ thể hóa bằng một cấu trúc cùng làm: Nhà nước kiến tạo hạ tầng và chính sách; doanh nghiệp mở thị trường và chuỗi liên kết; cán bộ cơ sở chuyển giao phương pháp; người có uy tín vận động cộng đồng; còn người dân phải là người trực tiếp quyết định và chịu trách nhiệm với sinh kế của mình.

Bước vào giai đoạn phát triển mới, ngày 1/5/2026, UBND tỉnh Gia Lai ban hành Quyết định số 1925/QĐ-UBND về thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I từ 2026 - 2030.

Cùng với đó là mục tiêu trên 85% xã, thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi có đủ hạ tầng thiết yếu; 100% xã có đường ô tô đến trung tâm được nhựa hóa hoặc bê tông hóa; 100% thôn có đường trục chính được cứng hóa; 100% hộ được sử dụng điện từ lưới quốc gia hoặc nguồn phù hợp; toàn bộ đồng bào dân tộc thiểu số được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh và tiếp cận phát thanh, truyền hình. Khả năng tiếp cận internet, hạ tầng số cũng được đưa vào mục tiêu phát triển.
Quy mô nguồn lực cho giai đoạn mới cũng rất lớn. Phát biểu tại hội nghị toàn quốc về triển khai các Chương trình mục tiêu quốc gia ngày 6/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Phạm Anh Tuấn cho biết Gia Lai đang “tập trung mọi nguồn lực” cho giai đoạn 2026 - 2030, tổng nhu cầu vốn dự kiến khoảng 20.000 tỷ đồng. Tỉnh đã xây dựng danh mục dự án cấp bách theo thứ tự ưu tiên, trọng tâm vào giao thông, thủy lợi và nước sạch; thời điểm đó đã tiếp nhận 3.060 tỷ đồng vốn đầu tư công và 1.200 tỷ đồng vốn sự nghiệp từ Trung ương.
Tháng 8/2026, tỉnh yêu cầu tổ chức đồng bộ các giải pháp, phấn đấu giải ngân 100% kế hoạch vốn Trung ương và ngân sách tỉnh năm 2025 được kéo dài sang 2026, đồng thời đẩy nhanh kế hoạch vốn năm 2026, bảo đảm đúng mục tiêu, tiến độ và hiệu quả.
Theo ghi nhận thực tế, những tháng đầu năm 2026, quá trình triển khai có thời điểm chậm do phải chờ hướng dẫn về kế hoạch đầu tư công trung hạn và phân bổ vốn. Khi những điểm nghẽn về cơ chế dần được tháo gỡ, hơn 6.885 tỷ đồng được bố trí cho giai đoạn 2026 - 2030 và hơn 630 tỷ đồng phân bổ trong năm 2026 đã mở thêm dư địa triển khai các chương trình.
Bởi thế, yêu cầu đặt ra không thể đơn giản là “tiêu hết vốn”. Giải ngân nhanh nhưng phải đúng. Đầu tư lớn nhưng phải trúng. Công trình hoàn thành phải vận hành được. Sinh kế hỗ trợ phải sống được sau khi dự án kết thúc.
Trong chiến lược phát triển chung, Gia Lai đặt mục tiêu tăng trưởng nhanh, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển nông nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế biến, dịch vụ và du lịch, hướng tới trở thành tỉnh phát triển khá.

Thước đo cuối cùng của Chương trình mục tiêu quốc gia vì vậy không thể chỉ là bao nhiêu tỷ đồng đã được giải ngân, bao nhiêu kilomet đường đã được bê tông hóa hay bao nhiêu con bò đã được cấp. Thước đo quan trọng hơn là: bao nhiêu hộ thoát nghèo mà không tái nghèo; bao nhiêu sinh kế tiếp tục phát triển sau khi kết thúc hỗ trợ; bao nhiêu đứa trẻ vùng sâu có thể đi hết con đường học tập; bao nhiêu người dân biết sử dụng công nghệ để tiếp cận thị trường; khoảng cách về thu nhập và dịch vụ giữa vùng đồng bào dân tộc thiểu số với mặt bằng chung của tỉnh được thu hẹp đến đâu.
Và sâu xa hơn nữa, phải đo bằng sự thay đổi vị thế của người dân: từ chỗ chờ chính sách đến chủ động tìm cơ hội; từ sản xuất tự cung tự cấp sang tham gia thị trường; từ người nhận hỗ trợ trở thành người làm chủ nguồn lực và tương lai của gia đình mình. Và đó cũng là cách Gia Lai bảo đảm rằng trong hành trình tăng tốc của một tỉnh mới, không một vùng đất, một cộng đồng hay một người dân nào bị bỏ lại phía sau.
Gia Bình