


Những ngày cuối năm 2025, đoàn công tác của tỉnh Gia Lai đi sâu vào những cánh rừng Kon Ka Kinh. Sau gần một giờ băng rừng, trước hệ sinh thái nguyên sơ trải rộng giữa đại ngàn, Chủ tịch UBND tỉnh Phạm Anh Tuấn không giấu được ấn tượng về cảnh quan và sự đa dạng sinh học nơi đây.
Chuyến khảo sát không đơn thuần để ngắm một khu rừng đẹp. Nó diễn ra vào thời điểm Gia Lai đang đứng trước một bài toán phát triển mới: làm thế nào biến những giá trị thiên nhiên độc đáo thành nguồn lực kinh tế mà không làm tổn thương chính tài nguyên tạo nên giá trị ấy; làm thế nào để rừng được bảo vệ tốt hơn nhưng người dân sống bên rừng cũng được hưởng lợi; và làm thế nào đưa những “kho báu xanh” còn ẩn sâu trong đại ngàn trở thành một phần của chuỗi sản phẩm du lịch có sức cạnh tranh.
Kon Ka Kinh chính là một phép thử cho tư duy phát triển ấy.

Tháng 3/2026, khi làm việc về xây dựng sản phẩm du lịch tại Kon Ka Kinh và Kon Chư Răng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thị Thanh Lịch đặt ra nguyên tắc rất rõ: phát triển hai khu vực này phải nằm trong tổng thể bảo tồn đa dạng sinh học, giữ gìn cảnh quan tự nhiên. Các sản phẩm được tính toán từ “Một ngày khám phá rừng”, cắm trại hai ngày một đêm, “Bình minh giữa đại ngàn” đến “Mỗi du khách một hành động xanh” – tức trải nghiệm du lịch đồng thời phải tạo ra nhận thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường.
Đến ngày 8/7/2026, tư duy ấy được cụ thể hóa thành quyết sách: UBND tỉnh ban hành Quyết định 2919/QĐ-UBND phê duyệt Đề án du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí trong Vườn quốc gia Kon Ka Kinh đến năm 2030, định hướng đến năm 2045.
Cùng với Kon Chư Răng, các đề án đặt mục tiêu xuyên suốt là bảo tồn, phát huy cảnh quan, hệ sinh thái và đa dạng sinh học, đồng thời tạo thêm nguồn thu để phục vụ quản lý, bảo vệ rừng. Riêng Kon Ka Kinh dự kiến phát triển 5 điểm và 12 tuyến du lịch dài khoảng 201km, với những sản phẩm từ trekking chinh phục đỉnh Kon Ka Kinh, khám phá thác nước, quan sát động vật, nghỉ dưỡng, chăm sóc sức khỏe đến du lịch cộng đồng và nghiên cứu khoa học.
Từ một khu rừng cần được bảo vệ nghiêm ngặt đến một tài sản sinh thái có thể tạo ra giá trị kinh tế mà vẫn được gìn giữ – đó chính là câu chuyện lớn hơn mà Gia Lai đang tìm lời giải trong giai đoạn phát triển mới.

Sau sắp xếp đơn vị hành chính, không gian sinh thái Gia Lai có một cấu trúc gần như hiếm có: rừng – cao nguyên – núi lửa – sông hồ – đồng ruộng – đầm phá – biển – đảo nằm trong cùng một địa phương.
Nếu phía Tây là Kon Ka Kinh, Kon Chư Răng, Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cao nguyên Kon Hà Nừng, Biển Hồ, núi lửa Chư Đăng Ya, hệ thống thác nước và rừng nguyên sinh, thì phía Đông là hơn 135km bờ biển với Kỳ Co, Eo Gió, đầm Thị Nại, bán đảo Phương Mai, Nhơn Châu cùng hệ sinh thái biển và ven bờ. Ở giữa hai không gian ấy là những lớp cảnh quan rất riêng.
Tại Kdang, ruộng bậc thang Đak Tơ Pê không chỉ đẹp bởi những đường cong nối tiếp giữa cao nguyên. Theo Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Kdang Lê Thị Huệ, cánh đồng bậc thang đã tồn tại hàng trăm năm cùng phương thức canh tác của người dân, vừa là tư liệu sản xuất, vừa mang giá trị như một “di sản sinh thái – văn hóa” cần được gìn giữ. Địa phương đang tính toán đưa ruộng bậc thang, Thác Đôi và cảnh quan tự nhiên vào không gian phát triển du lịch.
Tại Biển Hồ, mặt nước trên cao nguyên cùng những hàng thông cổ thụ tạo nên một hệ cảnh quan khác. Chư Đăng Ya lại kể câu chuyện địa chất của một miệng núi lửa cổ, mỗi mùa dã quỳ trở thành điểm đến của du khách và giới nhiếp ảnh. Đi xa hơn về Kbang là những dòng thác giữa rừng, cảnh quan của Cao nguyên Kon Hà Nừng và những cộng đồng Bahnar vẫn lưu giữ cồng chiêng, nhà rông, lễ hội, ẩm thực và tri thức bản địa.
Xuống phía Đông, du khách có thể bước từ rừng đến biển, từ không gian cồng chiêng đến Bài chòi, võ cổ truyền, văn hóa Chăm; từ trekking trong rừng nguyên sinh đến lặn biển, khám phá đảo và trải nghiệm đời sống làng chài.
Đó không còn đơn thuần là nhiều điểm đến cùng tồn tại trên một bản đồ. Đó là điều kiện để hình thành một hệ sinh thái du lịch hoàn chỉnh.
Bộ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Văn Hùng tại lễ khai mạc Năm Du lịch quốc gia 2026 đã gọi sự kết nối ấy là việc kiến tạo một cấu trúc phát triển mới, liên kết giữa rừng và biển, đưa tài nguyên thiên nhiên và chiều sâu văn hóa thành những sản phẩm đặc biệt phục vụ phát triển kinh tế-xã hội. Theo Bộ trưởng, chính sự khác biệt ấy tạo nên lợi thế cạnh tranh chiến lược dài hạn cho du lịch Gia Lai.

Đề án Năm Du lịch quốc gia 2026 đã phác thảo một trục di sản thiên nhiên: Chư Đăng Ya – Biển Hồ – Vườn quốc gia Kon Ka Kinh – đầm Thị Nại – biển Quy Nhơn. Một hành trình như vậy có thể giúp giải quyết điểm yếu cố hữu của nhiều điểm đến: khách đến, chụp ảnh rồi rời đi. Khi tài nguyên được kết nối thành chuỗi, thời gian lưu trú dài hơn, chi tiêu tăng lên và lợi ích từ du lịch được phân bổ tới nhiều cộng đồng hơn.

Tiềm năng chỉ trở thành lợi thế khi được chuyển hóa thành sản phẩm và thị trường. Năm 2025, Gia Lai đón khoảng 12,4 triệu lượt khách, doanh thu du lịch khoảng 29.000 tỷ đồng. Năm 2026, tỉnh đặt mục tiêu khoảng 15 triệu lượt khách và tổng thu khoảng 35.000 tỷ đồng. Ý nghĩa của những con số không đơn thuần ở tăng lượng khách. Điều quan trọng hơn là Gia Lai đang tìm cách chuyển từ khai thác cảnh quan sang kiến tạo giá trị từ cảnh quan.
Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đỗ Thị Diệu Hạnh xác định trong giai đoạn 2026–2030, tỉnh sẽ tập trung bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa, danh lam thắng cảnh; xây dựng thương hiệu; kết nối Đông – Tây; phát triển du lịch biển, cộng đồng và trải nghiệm; đồng thời xây dựng nguồn nhân lực và sản phẩm độc đáo.
Năm Du lịch quốc gia 2026 vì thế được nhìn nhận như một bệ phóng, chứ không phải đích đến.
Với 244 sự kiện, hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch được công bố, sự kiện tạo cơ hội đưa thương hiệu Gia Lai mới ra thị trường trong nước và quốc tế. Quan trọng hơn, nó buộc địa phương đẩy nhanh hoàn thiện hạ tầng, chuẩn hóa dịch vụ, phát triển sản phẩm và tăng liên kết giữa các khu vực.

Phó Cục trưởng Cục Du lịch quốc gia Việt Nam Hà Văn Siêu đánh giá Gia Lai đang hội tụ điều kiện để phát triển đồng thời du lịch biển, núi, sinh thái và văn hóa. Ông cũng đặt ra yêu cầu quan trọng: muốn giữ khách lâu hơn, điểm đến phải tạo ra trải nghiệm sâu hơn, có những câu chuyện hấp dẫn hơn; tài nguyên cần được số hóa, dữ liệu hóa và ứng dụng công nghệ để hình thành cách kể mới về vùng đất, văn hóa và con người.
Đây chính là ranh giới giữa “có tài nguyên du lịch” và “có kinh tế du lịch”.
Kon Ka Kinh sẽ khó tạo ra giá trị nếu chỉ là khu rừng đẹp. Nhưng khi có tuyến trekking, quan sát động vật, giáo dục môi trường, nghiên cứu khoa học, hướng dẫn viên bản địa, lưu trú cộng đồng, ẩm thực và sản phẩm địa phương, mỗi hecta rừng được bảo vệ có thể tạo thêm giá trị kinh tế mà không cần chuyển đổi mục đích sử dụng rừng.
Tương tự, ruộng bậc thang Đak Tơ Pê không cần bê tông hóa để trở thành điểm đến. Chính nếp canh tác truyền thống, cảnh quan mùa vụ và đời sống cộng đồng mới là sản phẩm.
Ở làng Kép 1, xã Ialy, chị Rơ Châm Trư cùng gia đình sửa sang nhà sàn để đón khách, chuẩn bị cơm lam, cà đắng, rau rừng, rượu cần và không gian văn hóa Jarai. Người dân bắt đầu nhìn thấy rằng gìn giữ căn nhà, món ăn, tiếng chiêng và nếp sống của mình cũng có thể tạo ra thu nhập.
Khi đó, bảo tồn không còn đứng đối diện với phát triển. Bảo tồn trở thành một phương thức phát triển.

Càng nhiều tiềm năng, Gia Lai càng phải đối diện với một câu hỏi khó: khai thác đến đâu? Rừng nguyên sinh, động vật hoang dã, hồ nước, núi lửa, san hô, đảo và văn hóa bản địa đều là những tài nguyên có giới hạn. Một điểm đến sinh thái nếu phát triển ồ ạt có thể đánh mất chính điều khiến du khách tìm đến.
Vì vậy, thông điệp được Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đưa ra tại lễ khai mạc Năm Du lịch quốc gia 2026 có ý nghĩa đặc biệt đối với Gia Lai: “Phát triển du lịch tuyệt đối không đánh đổi môi trường và bản sắc văn hóa.” Phó Thủ tướng yêu cầu tỉnh bảo vệ nghiêm ngặt cảnh quan nguyên sơ của đại ngàn Tây Nguyên gắn với hệ sinh thái duyên hải, đồng thời tiên phong ứng dụng kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn.
Điều đó cũng lý giải vì sao đề án Kon Ka Kinh và Kon Chư Răng đặt bảo tồn lên trước khai thác. Nếu rừng là “vốn”, du lịch chỉ bền vững khi không tiêu vào vốn gốc.

Tư duy ấy cũng cần áp dụng với Biển Hồ, Chư Đăng Ya, Kon Hà Nừng, đầm Thị Nại, Nhơn Châu và toàn bộ dải sinh thái biển. “Tăng trưởng xanh” không thể chỉ là gắn chữ xanh vào một sản phẩm du lịch. Nó phải được đo bằng việc sau mỗi mùa khách, rừng còn nguyên hơn, biển sạch hơn, văn hóa được gìn giữ tốt hơn và người dân địa phương có thu nhập cao hơn.
Đó cũng là lý do du lịch cộng đồng có ý nghĩa đặc biệt. Khi một gia đình Bahnar hay Jarai có thể sống tốt hơn nhờ gìn giữ nhà rông, cồng chiêng, ẩm thực và cảnh quan, cộng đồng sẽ trở thành lực lượng bảo vệ tài nguyên hiệu quả nhất.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thị Thanh Lịch từng nói về mong muốn biến những “tài sản” của Gia Lai thành động lực, nguồn lực phát triển kinh tế thật sự bền vững, thông qua câu chuyện văn hóa, sản phẩm nông nghiệp, đặc sản và những câu chuyện về con người mộc mạc từ vùng núi đến miền biển.
Đó là một cách nhìn đáng chú ý: tài sản du lịch lớn nhất không chỉ nằm trong cảnh quan, mà nằm trong mối quan hệ giữa thiên nhiên và con người.
Ngày hôm nay, du khách có thể đến Kon Ka Kinh để chinh phục đỉnh núi, ngắm rừng, nghe tiếng chim, tìm hiểu động vật hoang dã. Giá trị lớn hơn của Kon Ka Kinh nằm ở việc một khu rừng được bảo vệ có thể tạo ra tri thức, sinh kế và giá trị kinh tế như thế nào; người dân sống bên rừng có thể trở thành người hướng dẫn, người kể chuyện và người bảo vệ rừng ra sao.
Từ Kon Ka Kinh nhìn ra Biển Hồ, Chư Đăng Ya, Kon Chư Răng; từ những thửa ruộng bậc thang Kdang xuống đầm Thị Nại, Kỳ Co, Eo Gió, Nhơn Châu, Gia Lai đang sở hữu một chuỗi “vốn xanh” mà không nhiều địa phương có được.
Năm Du lịch quốc gia 2026 tạo ra cơ hội để đưa chuỗi giá trị ấy ra ánh sáng.
Chủ tịch UBND tỉnh Phạm Anh Tuấn tại lễ khai mạc đã cam kết Gia Lai tổ chức Năm Du lịch quốc gia với tinh thần “chuyên nghiệp – an toàn – thân thiện – bản sắc”, để mỗi du khách cảm nhận được sự chân thành, khác biệt và đáng nhớ; đồng thời bày tỏ niềm tin Gia Lai mới sẽ trở thành điểm đến hấp dẫn, nơi hội tụ, kết nối và lan tỏa các giá trị văn hóa, du lịch đặc sắc.
Muốn biến cam kết ấy thành động lực tăng trưởng lâu dài, Gia Lai cần tiếp tục giải quyết đồng thời ba bài toán: bảo tồn được tài nguyên; tạo được sản phẩm đủ khác biệt; và bảo đảm cộng đồng địa phương được hưởng lợi từ sự phát triển. Khi ba yếu tố ấy gặp nhau, du lịch mới thực sự trở thành ngành kinh tế tạo giá trị gia tăng thay vì khai thác tài nguyên thô.

Gia Bình