



Sau sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, trên diện tích hơn 21,5 nghìn km² là cộng đồng hơn 3,58 triệu người thuộc nhiều thành phần dân tộc. Văn hóa cồng chiêng, nhà rông, sử thi, lễ hội, thổ cẩm của đại ngàn gặp văn hóa Chăm, nghệ thuật Bài chòi, võ cổ truyền, lễ hội cầu ngư và văn hóa cư dân ven biển. Nếu nhìn ở góc độ phát triển, đây là một “tài sản” đặc biệt.
Nghị quyết 80-NQ/TW đặt văn hóa vào vị trí không chỉ là nền tảng tinh thần mà còn là nguồn lực nội sinh, động lực và hệ điều tiết phát triển; yêu cầu văn hóa thấm sâu vào các lĩnh vực của đời sống, từ hoạch định chính sách, tổ chức thực hiện đến không gian số.
Gia Lai đã có sự chuẩn bị cho cách tiếp cận đó ngay từ năm 2025. Ngày 10/10/2025, UBND tỉnh ban hành Kế hoạch 92/KH-UBND triển khai các chủ trương của Trung ương và Tỉnh ủy về xây dựng, phát triển văn hóa, con người, với yêu cầu tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động, để văn hóa, con người thực sự trở thành “nền tảng”, “nguồn lực nội sinh”, “sức mạnh mềm”, “động lực phát triển” nhanh và bền vững. Đến khi Nghị quyết 80 ra đời, một bước chuyển mạnh mẽ hơn được đặt ra.
Tại phiên họp thứ nhất của Ban Chỉ đạo Tỉnh ủy Gia Lai thực hiện Nghị quyết 80, Bí thư Tỉnh ủy Thái Đại Ngọc yêu cầu: “Đổi mới tư duy từ bảo tồn đơn thuần sang bảo tồn gắn với phát huy giá trị; từ quản lý di sản sang khai thác hiệu quả, bền vững các giá trị văn hóa, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh”.
Đó là sự chuyển dịch đáng chú ý: từ giữ văn hóa sang làm cho văn hóa tiếp tục sinh sôi giá trị trong đời sống mới.


Năm 2025, thông qua Dự án 6 thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, tỉnh tiếp tục kiểm kê di sản văn hóa tiêu biểu của đồng bào Bahnar, Chăm Hroi; xây dựng các mô hình bảo tồn lễ hội truyền thống gắn với sản phẩm du lịch; hỗ trợ các đội văn nghệ truyền thống tại thôn, làng và vùng tái định cư.
Nhìn rộng cả giai đoạn, những con số cho thấy văn hóa đã được đưa dần trở lại không gian cộng đồng. Gia Lai đã xây dựng 27 nhà văn hóa thôn, tổ chức 3 lễ hội truyền thống, mở 7 lớp tập huấn văn hóa phi vật thể, thành lập 4 câu lạc bộ sinh hoạt văn hóa dân gian, hỗ trợ 99 đội văn nghệ, xây dựng 47 tủ sách cộng đồng và trang bị thiết chế văn hóa cho 67 thôn, làng.
Riêng năm 2025, Ngày hội Văn hóa các dân tộc tỉnh Gia Lai quy tụ 794 nghệ nhân từ 17 địa phương, với không gian cồng chiêng, dân ca, dân vũ, nhạc cụ truyền thống, chỉnh chiêng, trang phục dân tộc và nhiều trò chơi dân gian. Điều đáng nói không chỉ là quy mô một ngày hội. Mỗi nghệ nhân xuất hiện ở đó chính là một người đang nắm giữ ký ức cộng đồng; mỗi thanh niên học đánh chiêng, múa xoang hay dệt thổ cẩm là thêm một mắt xích nối di sản với tương lai.
Ở phía Đông tỉnh, Ngày hội Văn hóa-Thể thao các dân tộc thiểu số miền núi được duy trì định kỳ; phía Tây duy trì ngày hội văn hóa các dân tộc với những nghi lễ như mừng lúa mới, cúng nhà rông, cúng giọt nước cùng dân ca, sử thi, cồng chiêng và các môn thể thao truyền thống.
Văn hóa cũng được đưa đến những nơi xa trung tâm. Trong giai đoạn 2021-2025, các đơn vị văn hóa của tỉnh đã thực hiện hơn 700 buổi biểu diễn nghệ thuật và 530 buổi tuyên truyền lưu động; hoạt động chiếu phim lưu động được duy trì tại các xã vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Nhưng thành quả đáng chú ý hơn là cách bảo tồn đang thay đổi.
Lễ mừng lúa mới của người Jrai được phục dựng trong không gian Tuần lễ Hoa Dã quỳ-Núi lửa Chư Đang Ya; lễ ăn cốm lúa mới của người Bahnar K’riêm, lễ hội Thần Làng của người Chăm H’roi được gắn với hoạt động trải nghiệm. Cồng chiêng không chỉ được trình diễn trong lễ hội mà trở thành sản phẩm du lịch văn hóa. Nghề thủ công không chỉ được truyền dạy mà bắt đầu gắn với trưng bày, trải nghiệm và tiêu thụ sản phẩm. Đây chính là ranh giới giữa “bảo tồn tĩnh” và “bảo tồn sống”.
Một bộ cồng chiêng đặt trong bảo tàng có thể được gìn giữ hàng trăm năm. Nhưng chỉ khi có người biết đánh, biết chỉnh chiêng, hiểu từng bài chiêng được sử dụng trong nghi lễ nào, di sản mới thực sự sống.
Một tấm thổ cẩm có thể trở thành hiện vật. Nhưng khi người phụ nữ vẫn dệt, người trẻ học nghề và du khách sẵn sàng mua sản phẩm vì hiểu câu chuyện văn hóa đằng sau hoa văn ấy, nghề truyền thống mới có khả năng tồn tại lâu dài.
Bởi vậy, Bí thư Tỉnh ủy Thái Đại Ngọc năm 2026 tiếp tục yêu cầu lựa chọn những giá trị văn hóa có lợi thế để xây dựng sản phẩm văn hóa, du lịch đặc trưng, tránh đầu tư dàn trải, trùng lặp và kém hiệu quả.



Một trong những chuyển động quan trọng của Gia Lai là đưa người dân trở lại vị trí chủ thể của di sản.
Báo chí đã ghi nhận các lớp truyền dạy văn hóa tại Gia Lai không chỉ giúp bảo tồn tri thức mà còn mở ra cơ hội sinh kế thông qua du lịch trải nghiệm và tiêu thụ sản phẩm thủ công. Những điểm như làng Kép, buôn Mlah, làng Hà Ri được đầu tư gắn với phát huy văn hóa cộng đồng.
Đó là một mối quan hệ hai chiều. Văn hóa tạo sinh kế; sinh kế lại tạo động lực bảo vệ văn hóa. Khi một gia đình có thể tăng thu nhập nhờ dệt thổ cẩm, họ có lý do để truyền nghề cho con. Khi một đội cồng chiêng được tham gia thường xuyên vào hoạt động du lịch, thanh niên có thêm động lực học chiêng. Khi nhà rông, lễ hội và ẩm thực trở thành yếu tố tạo nên sức hấp dẫn của điểm đến, cộng đồng hiểu rằng bản sắc không phải “chuyện của ngày xưa”, mà là tài sản của hiện tại.
Đó cũng là tinh thần Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thị Thanh Lịch nhấn mạnh cuối năm 2025 khi yêu cầu phải đưa giá trị văn hóa, thể thao trở thành động lực phát triển kinh tế lâu dài.
Cách nhìn này càng có ý nghĩa khi Gia Lai bước vào giai đoạn phát triển du lịch mới. Tháng 1-2026, tỉnh triển khai Đề án phát triển du lịch giai đoạn 2025-2030, tầm nhìn 2045, trong đó bảo tồn, phát huy di sản văn hóa, lịch sử, khảo cổ và khai thác không gian văn hóa Tây Nguyên, Chămpa là những nội dung trọng tâm.

Sự khác biệt ấy càng rõ trong không gian tỉnh mới: từ cồng chiêng Tây Nguyên đến Bài chòi; từ sử thi Bahnar, Jrai đến nghệ thuật tuồng; từ nhà rông đến đình, tháp Chăm; từ lễ mừng lúa mới đến lễ hội cầu ngư; từ thổ cẩm đến võ cổ truyền.
Năm 2026, Liên hoan Quốc tế Võ cổ truyền Việt Nam lần thứ IX tại Gia Lai tiếp tục đưa một di sản đặc sắc của vùng đất Bình Định trước đây đến với các đoàn võ thuật trong nước và quốc tế.
Như vậy, “lan tỏa văn hóa” không còn giới hạn trong một cộng đồng hay một địa phương. Đó còn là cách Gia Lai xây dựng hình ảnh, thương hiệu và sức mạnh mềm trong không gian phát triển mới.
Chuyển đổi số tiếp tục mở rộng biên độ ấy. Việc số hóa di sản, xây dựng dữ liệu, sản xuất phim tài liệu, phóng sự, nội dung số và quảng bá trên nền tảng trực tuyến giúp một lễ hội ở làng xa, một bài chiêng hay một sản phẩm thủ công có thể vượt khỏi không gian nơi nó sinh ra. Ngay từ năm 2025, ngành văn hóa đã đặt bài toán bảo tồn di sản của Gia Lai mới theo hướng liên vùng-tích hợp-chuyển đổi số.
Đó là một phương thức mới để văn hóa truyền thống bước vào đời sống hiện đại mà không nhất thiết đánh mất căn cốt.

Nghị quyết 80-NQ/TW đặt ra một yêu cầu có ý nghĩa căn bản: con người là trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực của phát triển văn hóa.
Gia Lai đang cụ thể hóa yêu cầu đó bằng việc đặt cộng đồng, nghệ nhân và thế hệ trẻ vào trung tâm của bảo tồn.
Giai đoạn 2026-2030, tỉnh định hướng tiếp tục rà soát những di sản có nguy cơ mai một; phục hồi lễ hội, nghề thủ công, làng văn hóa; có chính sách hỗ trợ nghệ nhân và tạo điều kiện truyền dạy. Tỉnh đặt mục tiêu tại mỗi khu dân cư hoặc cụm 2-3 thôn, làng hình thành 1-2 câu lạc bộ văn hóa, nghệ thuật hoạt động hiệu quả; đồng thời hướng tới 100% trường dân tộc nội trú và trường học tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số đưa dân ca, dân vũ, dân nhạc vào sinh hoạt ngoại khóa.
Nếu thực hiện tốt, trường học sẽ trở thành một “không gian truyền dạy” mới bên cạnh gia đình và cộng đồng. Cùng với đó là yêu cầu chăm lo người đang giữ di sản. Nghệ nhân không chỉ cần danh hiệu. Họ cần điều kiện để truyền nghề, có học trò và có không gian thực hành.
Đặc biệt, tại phiên họp triển khai Nghị quyết 80 năm 2026, Bí thư Tỉnh ủy Thái Đại Ngọc yêu cầu việc phát triển văn hóa phải được đo bằng kết quả cụ thể: không chỉ bằng lượt khách hay doanh thu mà còn bằng việc làm được tạo ra, đội ngũ nghệ nhân kế tục và sức sống thực tế của di sản. Đồng thời, tỉnh phải chú trọng xây dựng con người Gia Lai phát triển toàn diện, giàu bản sắc, phát triển tài năng văn hóa, nghệ thuật, thể thao và xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh.
Đây có thể xem là một thước đo rất quan trọng. Bởi thành công của bảo tồn cuối cùng không nằm ở việc có bao nhiêu hồ sơ di sản được lập, mà ở câu hỏi: mười năm, hai mươi năm nữa còn bao nhiêu người biết đánh chiêng, chỉnh chiêng, kể sử thi, dệt thổ cẩm, hát dân ca, thực hành lễ hội và truyền lại những tri thức ấy?
Gia Lai hiện có 9 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; đội ngũ văn nghệ sĩ, nghệ nhân gồm 21 Nghệ sĩ Nhân dân, 64 Nghệ sĩ Ưu tú, 7 Nghệ nhân Nhân dân và 67 Nghệ nhân Ưu tú. Đó là vốn quý, nhưng quan trọng hơn là làm thế nào từ những “hạt nhân” ấy hình thành thêm những thế hệ kế tục.

Tiếng chiêng phải còn người đánh. Điệu xoang phải còn người múa. Tấm thổ cẩm phải còn bàn tay dệt. Võ cổ truyền phải có lớp võ sinh mới. Lễ hội cầu ngư phải còn cộng đồng ngư dân thực hành. Sử thi phải có người kể và người trẻ muốn nghe.
Khi những điều ấy còn tồn tại trong đời sống, văn hóa mới thực sự trở thành “nguồn lực nội sinh”.
Và khi văn hóa tạo thêm sinh kế, làm giàu sản phẩm du lịch, hình thành thương hiệu địa phương, nuôi dưỡng nhân cách con người, củng cố sự gắn kết cộng đồng và tạo nên bản sắc riêng của vùng đất, văn hóa mới thực sự trở thành động lực của phát triển.
Gia Lai đang đứng trước cơ hội đặc biệt để làm điều đó. Một tỉnh mới có đại ngàn và biển xanh, có cồng chiêng và Bài chòi, nhà rông và tháp Chăm, sử thi và võ cổ truyền, lễ mừng lúa mới và lễ hội cầu ngư.
Những giá trị ấy không chỉ là ký ức. Nếu được bảo tồn đúng cách, trao truyền đúng người và đánh thức bằng tư duy phát triển mới, chúng sẽ trở thành nguồn lực để Gia Lai bước tới tương lai.
Đó cũng chính là chiều sâu trong yêu cầu mà Bí thư Tỉnh ủy Thái Đại Ngọc đặt ra khi triển khai Nghị quyết 80: từ bảo tồn đơn thuần sang bảo tồn gắn với phát huy giá trị. Bởi đích đến cao nhất không phải là đưa di sản ra khỏi cuộc sống để bảo vệ, mà là giữ cho di sản sống trong cộng đồng, cùng cộng đồng và vì sự phát triển của cộng đồng.
Khi mạch nguồn ấy tiếp tục chảy từ thế hệ này sang thế hệ khác, bản sắc Gia Lai không những không phai nhạt trước những biến đổi của thời đại, mà còn có thể trở thành sức mạnh mềm, nguồn lực nội sinh để xây dựng một Gia Lai phát triển nhanh, bền vững, giàu bản sắc trong kỷ nguyên mới.
Gia Bình