Những ngày đầu năm mới 2026, hưởng ứng phong trào hiến đất mở đường, 77 hộ dân ở hai thôn Yên Phú 1 và Yên Phú 2 đã tự nguyện hiến đất, tháo dỡ vật kiến trúc để mở rộng hơn 1.700 m đường nội thôn. Khi những tuyến đường hoàn thành, xe chở nông sản đi lại thuận lợi hơn, chi phí vận chuyển giảm xuống và diện mạo làng quê cũng đổi khác.

Một câu chuyện nhỏ ở Ia Hiao nhưng lại hàm chứa một ý nghĩa lớn của hành trình xây dựng nông thôn mới ở Gia Lai: Nhà nước đầu tư nguồn lực, chính quyền tổ chức thực hiện, nhưng sức sống của chương trình chỉ thực sự bền vững khi người dân trở thành chủ thể.

Từ những con đường người dân tự nguyện hiến đất, những câu lạc bộ nông dân cùng nhau giữ môi trường xanh-sạch-đẹp, những sản phẩm OCOP được đưa ra thị trường, đến các mô hình kinh tế nông thôn ứng dụng khoa học-công nghệ, một diện mạo nông thôn mới đang từng bước hình thành trên không gian Gia Lai rộng lớn từ cao nguyên xuống miền duyên hải.

Sau giai đoạn 2021-2025, tỉnh bước vào chặng đường mới với yêu cầu cao hơn rất nhiều. Không còn đơn thuần là hoàn thành một số tiêu chí cơ sở hạ tầng, đích đến giai đoạn 2026-2030 là tạo ra những miền quê mà người dân có thu nhập tốt hơn, được thụ hưởng dịch vụ giáo dục, y tế, văn hóa tốt hơn; môi trường an toàn hơn; sản xuất hiệu quả hơn; bản sắc cộng đồng được gìn giữ và chính quyền thực sự gần dân.

Cuối năm 2025, khi tổng kết phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025 sau sắp xếp địa giới, Gia Lai có 47/110 xã đáp ứng chuẩn nông thôn mới, đạt 42,7%; 3/47 xã đáp ứng chuẩn nông thôn mới nâng cao. Trong cùng giai đoạn, phong trào giảm nghèo đã giúp hàng chục nghìn hộ thoát nghèo; đến cuối năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều toàn tỉnh được xác định còn khoảng 2,18%.

Đó là những con số tạo nền móng, nhưng nếu chỉ nhìn nông thôn mới bằng số xã được công nhận đạt chuẩn thì chưa đủ. Điều dễ nhận thấy hơn nằm trong sự thay đổi ở từng cộng đồng dân cư.

Ia Hiao là một ví dụ. Sự đồng thuận hiến đất mở đường đã cho thấy khi người dân nhìn thấy lợi ích trực tiếp của công trình đối với sản xuất và cuộc sống, họ không đứng ngoài chương trình mà trở thành người cùng kiến tạo. Những con đường rộng hơn giúp nông sản lưu thông nhanh hơn; trẻ em đến trường thuận lợi hơn; phương tiện cấp cứu, cứu hộ có thể tiếp cận khu dân cư tốt hơn. Một tiêu chí giao thông, theo cách đó, kéo theo hàng loạt thay đổi về kinh tế và chất lượng sống.

Ở Phú Túc, câu chuyện nông thôn mới lại được viết từ những việc tưởng như rất nhỏ.

Tháng 12/2025, Câu lạc bộ Nông dân bảo vệ môi trường thôn Thắng Lợi được thành lập với 20 hội viên. Các thành viên cùng phát quang, quét dọn đường làng, thu gom chai lọ thuốc bảo vệ thực vật trên đồng ruộng. Tại làng Mông, xã Ya Hội, các mô hình “Đoạn đường nông dân tự quản”, “Tuyến đường xanh-sạch-đẹp” cũng được triển khai. Đó chính là một bước chuyển quan trọng trong tư duy xây dựng nông thôn mới.

Những năm đầu của chương trình, người ta thường dễ nhận diện kết quả bằng đường bê-tông, trường học, nhà văn hóa, điện, thủy lợi. Nhưng khi hạ tầng đã từng bước hoàn thiện, câu hỏi phải chuyển sang chất lượng sống: đường có sạch không, rác thải có được thu gom không, nguồn nước có bảo đảm không, sản xuất có gây ô nhiễm không, cộng đồng dân cư có văn minh và an toàn không?

Thực tế cũng cho thấy đạt chuẩn không đồng nghĩa với việc tiêu chí sẽ tồn tại vĩnh viễn.

Qua rà soát tại một số địa phương năm 2026, có xã từng đạt chuẩn nhưng một số công trình giao thông, nhà văn hóa xuống cấp; các tiêu chí về hộ nghèo, môi trường và an toàn thực phẩm lại trở thành thách thức. Đây là lời nhắc quan trọng: xây dựng nông thôn mới không có điểm kết thúc.

Điều tỉnh cần gìn giữ sau mỗi tấm bằng công nhận chính là năng lực duy trì và nâng chất lượng tiêu chí. Một miền quê đáng sống trước hết phải là miền quê mà người dân thấy mình có trách nhiệm và có quyền làm chủ tương lai của chính cộng đồng mình.

Tháng 4/2026, một căn phòng ngay tại trụ sở UBND xã Ia Hiao trở thành “phòng livestream cộng đồng”.

Trước camera không phải người bán hàng chuyên nghiệp mà có cả cán bộ địa phương. Trên bàn là trứng gà, trứng vịt, gạo, khoai lang, bí đỏ do người dân mang đến. Phiên livestream được tổ chức để bán nông sản gây quỹ khuyến học cho học sinh khó khăn. Đây được đánh giá là một cách làm mới, vừa quảng bá sản phẩm địa phương, vừa tạo nguồn lực xã hội chăm lo cho trẻ em.

Câu chuyện thú vị ấy chỉ ra một hướng khác của nông thôn mới: chuyển đổi số không nhất thiết bắt đầu bằng những hệ thống công nghệ đắt tiền. Nó có thể khởi đầu từ việc một xã biết dùng mạng xã hội để đưa nông sản của người dân tới người mua.

Và đó là vấn đề cốt lõi của giai đoạn mới: xây dựng nông thôn mới phải gắn chặt với phát triển kinh tế nông thôn.

Số liệu 6 tháng đầu năm 2026 cho thấy một nền tảng đáng chú ý. Gia Lai có khoảng 226 chuỗi liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm, trên diện tích khoảng 253.100 ha. Toàn tỉnh đã có 400 mã số vùng trồng với hơn 12.162 ha và 53 mã số cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu. Riêng từ đầu năm 2026, đã có thêm 90 mã số vùng trồng xuất khẩu và 13 cơ sở đóng gói được cấp.

Đến giữa năm 2026, toàn tỉnh có 852 sản phẩm OCOP còn hiệu lực, gồm 756 sản phẩm 3 sao, 85 sản phẩm 4 sao và 11 sản phẩm 5 sao, với 443 chủ thể tham gia. Tỉnh đang xây dựng Đề án phát triển sản phẩm OCOP giai đoạn 2026-2030 và đề xuất 4 sản phẩm đánh giá cấp quốc gia.

Đây là nguồn lực rất lớn để tổ chức lại kinh tế nông thôn.

Tuy nhiên, thách thức trong 5 năm tới là phải chuyển từ “có nhiều sản phẩm OCOP” sang “có nhiều sản phẩm OCOP bán tốt và nuôi sống được chủ thể”.

Một sản phẩm được công nhận 3 sao hay 4 sao nhưng thị trường nhỏ, sản xuất không ổn định, bao bì ít đổi mới thì giá trị đối với nông thôn vẫn hạn chế. Vì thế, OCOP của giai đoạn 2026-2030 phải gắn với vùng nguyên liệu, hợp tác xã, logistics, thương mại điện tử, truy xuất nguồn gốc, du lịch nông thôn và bản sắc văn hóa.

Đặc biệt, không gian Gia Lai mới tạo ra một lợi thế hiếm có: từ cây cà phê, hồ tiêu, rau quả, dược liệu của cao nguyên đến thủy sản, làng nghề và sản vật miền biển.

Trong Năm Du lịch quốc gia 2026, Gia Lai đã có những hoạt động kết nối sản phẩm OCOP, ẩm thực và văn hóa với du lịch. Đây không nên chỉ là câu chuyện của một năm sự kiện. Nếu biết tổ chức lâu dài, mỗi làng nghề, mỗi vùng cây đặc sản, mỗi không gian văn hóa Jrai, Bahnar, mỗi làng chài có thể trở thành một phần của kinh tế du lịch nông thôn.

Một miền quê sẽ khó gọi là đáng sống nếu phía sau những tuyến đường đẹp vẫn còn những gia đình không có nhà ở an toàn, trẻ em khó tiếp cận giáo dục tốt, người dân thiếu nước sạch hoặc sinh kế bấp bênh.

Đây là lý do chương trình giai đoạn 2026-2030 được thiết kế theo hướng tích hợp chặt chẽ hơn giữa xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Cuối giai đoạn trước, Gia Lai đã đạt một bước tiến rất đáng kể về an sinh.

Theo báo cáo của tỉnh, đến cuối năm 2025, đã có hơn 61.000 hộ nghèo thoát nghèo; thu nhập của hộ nghèo, hộ cận nghèo tăng khoảng gấp đôi so với đầu giai đoạn 2021. Chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát cũng hoàn thành 12.520 căn, gồm 9.106 căn xây mới và 3.414 căn sửa chữa.

Nhưng mục tiêu của giai đoạn mới phải cao hơn việc đưa một hộ gia đình qua chuẩn nghèo. Điều quan trọng là sau thoát nghèo, họ có đứng vững được hay không.

Ở nông thôn, đặc biệt vùng đồng bào dân tộc thiểu số, một trận thiên tai, một vụ mùa thất bát, một thành viên gia đình mắc bệnh hoặc giá nông sản giảm mạnh có thể kéo một hộ vừa thoát nghèo quay trở lại nghèo.

Bởi vậy, giảm nghèo trong xây dựng nông thôn mới phải được chuyển từ hỗ trợ đơn lẻ sang tạo năng lực phát triển lâu dài: đất sản xuất, tín dụng, nghề nghiệp, kỹ năng, liên kết sản xuất, bảo hiểm, dịch vụ y tế, giáo dục và khả năng tiếp cận thị trường.

Gia Lai có cả cao nguyên, vùng núi, trung du và ven biển. Biến đổi khí hậu đặt ra những dạng rủi ro rất khác nhau: lũ quét, sạt lở, hạn hán, ngập lụt, bão và xâm nhập mặn. Vì thế, xây dựng hạ tầng nông thôn thời kỳ mới không thể chỉ đặt câu hỏi “có công trình hay chưa”, mà phải đặt câu hỏi “công trình có đủ sức chống chịu trong 10-20 năm tới hay không”.

Nước sạch và môi trường cũng là những tiêu chí cần tạo bước đột phá.

Ngành Nông nghiệp và Môi trường Gia Lai đặt mục tiêu năm 2026 tỷ lệ dân cư nông thôn sử dụng nước sạch đạt 41,5%, tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt nông thôn đạt 62,7%. Đây vừa là mục tiêu, vừa cho thấy dư địa cải thiện còn rất lớn.

Nếu đường giao thông là “bộ khung” của nông thôn mới giai đoạn đầu thì nước sạch, môi trường, y tế, giáo dục, chuyển đổi số và an sinh phải trở thành thước đo của giai đoạn mới.

Bởi cuối cùng, người dân không sống bằng số lượng tiêu chí. Họ sống bằng chất lượng của những dịch vụ mà các tiêu chí ấy đem lại.

Gia Lai đã xác định một đích đến cụ thể cho giai đoạn 2026-2030: phấn đấu có 77 xã đạt chuẩn nông thôn mới và 9 xã đạt chuẩn nông thôn mới hiện đại. Đến giữa năm 2026, 90/111 xã, phường thuộc diện thực hiện chương trình đã xây dựng kế hoạch.

So với điểm xuất phát cuối năm 2025, đây là một mục tiêu đòi hỏi nỗ lực rất lớn. Nhưng điều đáng nói hơn là chuẩn nông thôn mới của giai đoạn 2026-2030 đã khác.

Bộ tiêu chí quốc gia mới không chỉ coi trọng cơ sở hạ tầng mà đặt mạnh hơn yêu cầu về tốc độ tăng thu nhập, OCOP, kinh tế tư nhân, nước sạch, môi trường, chuyển đổi số, sự hài lòng của người dân và an ninh trật tự. Đối với một tỉnh muốn hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới, quy định mới yêu cầu 100% xã đạt chuẩn, ít nhất 10% xã đạt nông thôn mới hiện đại cùng nhiều điều kiện về môi trường, chính quyền số và chất lượng phục vụ người dân.

Điều đó có nghĩa Gia Lai không thể đi theo cách “chia đều nguồn lực để chạy tiêu chí”.

Trước hết, cần phân loại rất rõ từng nhóm xã. Những xã đã có nền tảng tốt cần tập trung xây dựng nông thôn mới hiện đại, tạo các mô hình mẫu về chuyển đổi số, kinh tế xanh, môi trường, du lịch nông thôn và quản trị cộng đồng.

Những xã mới đạt mức trung bình cần ưu tiên các tiêu chí tạo ra sinh kế và thu nhập thay vì đầu tư dàn trải.

Đối với vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng thường xuyên chịu thiên tai, nguồn lực trước hết phải dành cho những nhu cầu căn bản: giao thông, nước sạch, nhà ở an toàn, giáo dục, y tế, đất và sinh kế.

Thứ hai, phải coi phát triển sản xuất là nền móng lâu dài của nông thôn mới.

Gia Lai có lợi thế rất lớn về quy mô nông nghiệp. Trong 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh đã chuyển đổi khoảng 5.100 ha cây trồng kém hiệu quả sang cây trồng có giá trị cao hơn, đồng thời hình thành hàng trăm chuỗi liên kết. Đây cần trở thành hướng chủ đạo: sản xuất theo vùng nguyên liệu lớn, mã số vùng trồng, tiêu chuẩn chất lượng, chế biến sâu và hợp đồng thị trường.

Thứ ba, kinh tế hợp tác phải thực sự trở thành cầu nối giữa nông dân và doanh nghiệp.

Một hộ nhỏ lẻ khó mua công nghệ, khó đáp ứng đơn hàng lớn, càng khó đàm phán với thị trường quốc tế. Nhưng hàng trăm hộ cùng chung một quy trình thông qua hợp tác xã có thể hình thành một vùng hàng hóa đủ lớn.

Thứ tư, cần đưa chuyển đổi số xuống tận thôn, làng.

Việc tỉnh cập nhật dữ liệu trên Hệ thống thông tin nông thôn mới và xây dựng Sổ tay điện tử về cơ chế, chính sách, hướng dẫn thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2030 là bước đi cần thiết. Nhưng chuyển đổi số chỉ thật sự thành công khi người nông dân có thể dùng điện thoại để truy xuất giống, ghi nhật ký sản xuất, tìm thị trường, tiếp cận dịch vụ công và bán sản phẩm.

Câu chuyện livestream bán khoai, gạo, trứng để gây quỹ khuyến học ở Ia Hiao vì thế không hề nhỏ. Nó cho thấy một cộng đồng nông thôn hoàn toàn có thể bước vào kinh tế số theo cách rất tự nhiên. 

Và cuối cùng, thước đo cao nhất của nông thôn mới phải là sự hài lòng của người dân.

Một xã có thể đạt đủ tiêu chí trên hồ sơ, nhưng nếu thanh niên vẫn phải rời quê vì không tìm thấy việc làm; người dân vẫn lo nước sạch, rác thải, bệnh viện, trường học; nông sản vẫn bấp bênh đầu ra thì nông thôn mới ấy chưa thể coi là hoàn chỉnh.

Đó là hành trình chuyển từ xây dựng “bộ mặt nông thôn” sang xây dựng “chất lượng sống nông thôn”; từ làm đường đến tạo sinh kế; từ hỗ trợ người nghèo đến tạo năng lực để họ tự đứng vững; từ sản xuất nông nghiệp đến kinh tế nông thôn; từ tiêu chí hành chính đến sự hài lòng của người dân.

Nếu giữ được hướng đi ấy, mục tiêu lớn nhất của Gia Lai đến năm 2030 sẽ không chỉ được thể hiện bằng số lượng xã được trao bằng công nhận.

Thành quả đáng giá hơn sẽ là những miền quê nơi người dân có thể sống tốt bằng chính nghề nghiệp của mình, con trẻ có cơ hội học hành, người già được chăm sóc, môi trường được gìn giữ, văn hóa cộng đồng được trao truyền và mỗi người có lý do để tự hào, gắn bó với quê hương.

Đó mới là ý nghĩa đầy đủ của xây dựng nông thôn mới. Và cũng là hình hài của những miền quê Gia Lai đáng sống trong chặng đường phát triển mới.

Gia Bình