Lời tòa soạn: Khi sự nghiệp rộng mở ở nước ngoài, nhiều trí thức, chuyên gia, doanh nhân... đã chọn trở về, mang theo tri thức và khát vọng dựng xây đất nước phát triển phồn vinh. Họ chọn phụng sự Tổ quốc theo cách riêng của mình. VietNamNet đăng tải loạt bài "Những người chọn trở về..." để tôn vinh những cống hiến thầm lặng cho nước nhà của những người con ưu tú.



Năm 1996, tại phòng chờ sân bay quốc tế Hong Kong, có một người đàn ông Việt Nam ngồi lặng lẽ suốt 7 tiếng đồng hồ. Xung quanh ông là dòng người hối hả giữa một sân bay bận rộn bậc nhất thế giới.
Nhưng tiến sĩ trẻ Phạm Anh Tuấn lại không rời mắt khỏi cuốn sách “Thế giới quả là rộng lớn và có rất nhiều việc phải làm” của nhà sáng lập Tập đoàn Daewoo. Trang sách gấp lại khi loa thông báo giờ lên máy bay vang lên.
Câu chuyện một người đàn ông Hàn Quốc khởi nghiệp từ 5.000 USD cứ xoáy sâu vào tâm trí ông: “Tại sao người ta làm được, mà mình không bắt đầu điều gì cho Việt Nam?”
Lúc đó, ông Tuấn đang có tất cả những gì mà một trí thức thời bấy giờ mơ ước: bằng tiến sĩ tại Đức, một vị trí nghiên cứu chính thức tại Viện Cơ điện tử, thu nhập gấp hơn 20 lần ở Việt Nam, cuộc sống gia đình bình yên bên người vợ đang học thạc sĩ và cô con gái nhỏ.
Nhưng đằng sau sự êm đềm ấy là một cơn sóng ngầm day dứt.
Ông Phạm Anh Tuấn có bằng tiến sĩ chuyên ngành Cơ học kỹ thuật ở Đức khi mới 25 tuổi.
Bốn năm sau chuyến bay ấy, vào một buổi tối năm 2000 tại Đức, ông Tuấn trao đổi với vợ về một quyết định có thể thay đổi cuộc sống của cả gia đình: Trở về Việt Nam.
Bỏ lại sau lưng môi trường nghiên cứu hiện đại, mức thu nhập tốt và cuộc sống đã ổn định, ông trở về Việt Nam. Phía trước ông khi đó là một môi trường khoa học trong nước còn nhiều thiếu thốn và một con đường sự nghiệp còn chưa thể định hình.
Thưa PGS.TS Phạm Anh Tuấn, nếu ngày ấy gạt đi ý định trở về và ở lại nước Đức bình yên, cuộc đời ông hôm nay có lẽ sẽ rất khác. Điều gì trong quá khứ từng khiến ông trăn trở nhất trước khi đưa ra quyết định trở về mang tính bước ngoặt đó?
Tôi học ở Đức từ năm 1979 đến năm 1986, tốt nghiệp tiến sĩ rồi về nước làm việc. Những năm tháng ấy khó khăn gian nan thế nào, chắc bạn cũng hình dung được.
Năm 1990, Viện Cơ điện tử của Đức mời tôi trở lại làm việc với những điều kiện nghiên cứu tuyệt vời. Phải nói thật là lúc ấy sung sướng lắm. Một người làm khoa học được tạo điều kiện nghiên cứu, không phải lo nhiều về cuộc sống cơm áo gạo tiền thì còn gì bằng.
Nhưng đến một thời điểm, tôi bắt đầu tự hỏi: Mình sẽ là ai trong cuộc đời này? Nếu người nào cũng chọn cuộc sống êm ấm như mình thì ai sẽ đóng góp cho đất nước?
Nếu tất cả mọi người đều ra nước ngoài thì ai đóng góp cho Việt Nam?
Bản thân mình đã được Nhà nước đầu tư, đào tạo, tạo điều kiện. Đến lúc nào đó, mình phải quay lại. Chắc chắn mình phải trở về.

Tôi cũng từng đọc được một câu rằng, một trong những thành công của người đàn ông là sau tuổi 40 phải có một con đường sự nghiệp riêng.
Câu nói ấy cũng khiến tôi suy nghĩ. Nhưng quyết định trở về không đến trong một ngày. Đó là một quá trình rất dài.

Có một cuốn sách dường như đã tác động khá mạnh đến quyết định đó của ông?
Đúng. Năm 1992, tôi về Việt Nam và thấy đất nước mình đang đổi mới.
Từ thời gian đó, tôi thường xuyên trở về hơn. Tôi tham gia giảng dạy ở Viện Cơ học, Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Xây dựng, Viện Cơ học ứng dụng tại TPHCM và giới thiệu chương trình phần mềm Alaska tại Việt Nam.
Mỗi chuyến về như vậy khiến khoảng cách giữa tôi với đất nước gần lại. Tôi cảm nhận được Việt Nam đang thay đổi dần dần.
Năm 1996, một người anh họ tặng tôi cuốn Thế giới quả là rộng lớn và có rất nhiều việc phải làm của ông Kim Woo-choong, nhà sáng lập Daewoo. Trong một lần quá cảnh tại sân bay Hong Kong, tôi có bảy tiếng chờ chuyến bay. Tôi ngồi đọc cuốn sách suốt bảy tiếng đó.
Đọc liền một mạch. Đến câu chuyện ông Kim Woo-choong khởi nghiệp với 5.000 USD, tôi đã tự thốt lên: “Trời ơi, người ta khởi nghiệp có 5.000 USD, tại sao chúng ta không bắt đầu một điều gì đó ở Việt Nam, cho tổ quốc mình?” Từ lúc ấy, ý định trở về rõ hơn.
Một lần khác quá cảnh ở Thái Lan, tôi lại nghĩ, với ý chí, quyết tâm và trí tuệ của người Việt Nam, rồi một ngày đất nước mình phải phát triển mạnh mẽ. Việt Nam không thể cam chịu đi sau mãi được.
Những suy nghĩ ấy cứ tích tụ từng chút một.
Đến năm 2000, tôi tự cảm thấy: Đã tới lúc trở về quê nhà, phải làm một điều gì đó để sau này mình không phải nói hai chữ “giá như”.
Nhưng khi ấy chắc hẳn ông không chỉ quyết định cho riêng mình, bởi vợ con ông đều đang sống ở Đức?
Đúng. Tôi có vợ con ở đó, vợ tôi cũng đang học thạc sĩ. Năm ấy con gái tôi cũng đã 5 tuổi, con trai được 2 tuổi. Tôi luôn mong muốn các con mình được học văn hóa tại Việt Nam.
Tôi trao đổi với gia đình. Vợ tôi đồng ý. Hai vợ chồng thống nhất rằng phải trở về, phải bắt đầu một điều gì đó mới ở Việt Nam.
Tôi về trước. Vợ tôi tiếp tục ở lại Đức để học.
Nhưng tình yêu quê hương là một chuyện, hiện thực của một nền khoa học còn thiếu thốn lại là chuyện khác. Có bao giờ ông trở về rồi mới thấy mình đã lãng mạn quá không?
Không. Tôi chưa từng hối hận.
Tôi từng về nước làm việc hơn ba năm sau khi tốt nghiệp năm 1986, nên đã trải qua và cảm nhận những khó khăn. Bởi vậy, những khó khăn vào năm 2000 đối với tôi thực ra đã nhỏ hơn rất nhiều so với trước.
Tôi may mắn được tạo điều kiện làm việc tại Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia (nay là Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam), tham gia nghiên cứu cơ điện tử, robot, năng lượng gió.
Còn việc bước vào công nghệ vũ trụ thì thật ra lại khá tình cờ.

Một lĩnh vực gần như chưa có đường đi ở Việt Nam lại bắt đầu với ông bằng một sự tình cờ?
Năm 2005, một đoàn của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam sang Đức tìm hiểu về công nghệ vũ trụ. May mắn thế nào, đoàn lại đến đúng viện mà trước đây tôi từng nghiên cứu.
Người thầy của tôi nói với đoàn: “Có một người học trò giỏi, bây giờ đã về Việt Nam”.
Khi đoàn về nước, lãnh đạo Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam tìm tôi rồi gọi lên hỏi: “Tuấn có muốn chuyển sang làm vũ trụ không?”
Gần như không mất thời gian suy nghĩ, tôi nhận lời ngay. Tôi vốn thích làm những điều mới.
Hồi ấy nhiều khi tôi còn nói đùa: “Vệ tinh cũng như một con robot bay trên trời chứ có gì đâu”. Chỉ nghĩ đơn giản như thế thôi.
Nhưng bước vào rồi mới biết khoảng cách từ một “con robot bay trên trời” đến khả năng một quốc gia tự chế tạo vệ tinh xa và khó khăn đến mức nào.

Vậy ông bắt đầu học về vũ trụ từ đâu?
Tôi có một người bạn Mỹ, Giáo sư Robert Bishop tại Đại học Texas ở Austin. Ông từng sang Việt Nam giảng dạy tại một số trường đại học. Chúng tôi thường trao đổi ý tưởng và ông đã giúp sắp xếp chuyến đi Mỹ cho tôi.
Năm 2006, tôi đến thăm Trung tâm vũ trụ của NASA tại Houston, Đại học Stanford và gặp Giáo sư Bob Twiggs. Ông Bob Twiggs sau đó có ảnh hưởng rất lớn tới quá trình làm vệ tinh PicoDragon, bước khởi đầu trong lộ trình tự phát triển vệ tinh nhỏ của chúng ta.
Năm đó cũng là thời điểm Chính phủ phê duyệt “Chiến lược nghiên cứu và ứng dụng công nghệ vũ trụ đến năm 2020”.
Tôi cùng một nhóm từ lực lượng nghiên cứu cơ điện tử của Viện Cơ học chuyển sang Viện Công nghệ Vũ trụ.
Từ ngày 1/1/2007, chúng tôi thực sự bước vào lĩnh vực này. Học, mày mò và làm từng bước.
Từ vệ tinh pico khoảng 1kg, rồi nano khoảng 4kg đến micro khoảng 50kg...

Ông từng kể rằng sau những chuyến đi Mỹ, Nhật, trong ông hình thành rất rõ ý nghĩ Việt Nam phải có một Trung tâm Vũ trụ Quốc gia?
Đúng. Năm 2007, sau khi đi Mỹ, Nhật Bản và nhìn thấy cách họ tổ chức lĩnh vực này, tôi “ước mơ” Việt Nam phải có một Trung tâm Vũ trụ Quốc gia. Rồi chúng tôi bắt đầu viết những trang đề cương đầu tiên.
Một trung tâm như thế sẽ xây ở đâu? Làm những gì? Đào tạo con người ra sao? Công nghệ nào Việt Nam cần từng bước làm chủ?
Sau những trang đề cương là rất nhiều cuộc trao đổi với các đối tác nước ngoài, đặc biệt là Nhật Bản.
Tháng 4/2009, trên cơ sở báo cáo tiền khả thi, Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư xây dựng Trung tâm Vũ trụ Việt Nam. Nhưng có chủ trương mới chỉ là bước đầu. Tiếp theo phải sang Nhật vận động nguồn vốn ODA cho dự án.
Ngày 16/9/2011, Trung tâm Vệ tinh Quốc gia được thành lập, sau này đổi tên thành Trung tâm Vũ trụ Việt Nam. Ngày 2/11/2011, Hiệp định vay vốn ODA cho dự án Trung tâm Vũ trụ Việt Nam được ký.
Hai chữ “vũ trụ” đôi khi khiến người ta hình dung về những thứ rất xa xôi.
Nhưng phía sau một trung tâm vũ trụ quốc gia ban đầu không phải tên lửa hay những bức ảnh ngoạn mục của trái đất. Nó từng chỉ là những trang đề cương.
Và trước những trang đề cương ấy là những người tin rằng Việt Nam rồi sẽ phải có năng lực của riêng mình trong không gian.


Ngày 18/8/2008 dường như là một dấu mốc ông nhớ rất rõ?
Tôi nhớ rõ: Ngày 18/8/2008 là một ngày rất đẹp (cười). Chúng ta ký thỏa thuận với tư vấn Nhật Bản làm nghiên cứu tiền khả thi cho dự án Trung tâm Vũ trụ Việt Nam. Cũng năm ấy, tôi cùng bốn đồng nghiệp sang Nhật học.
Nhưng phía Nhật Bản chỉ hỗ trợ kinh phí cho hai người. Ba người còn lại phải tự tìm kinh phí. Một lĩnh vực chưa biết có thành công hay không, tại sao vẫn có người sẵn sàng đi?
Công nghệ vũ trụ có rủi ro rất cao. Nhưng nếu chúng ta đầu tư vào đề tài nào cũng bắt buộc nó phải thành công thì sẽ chẳng ai dám làm công nghệ cao.
Phải chấp nhận có rủi ro. Phải có thất bại rồi mới có thành công.
Trong năm anh em sang Nhật thời điểm ấy, có người đang làm ở doanh nghiệp nước ngoài với mức lương rất cao.
Họ phải xin tạm nghỉ. Có người phải bỏ tiền túi để đi học.
Bạn thử nghĩ xem, đang có một công việc tốt, mức thu nhập tốt, lại bỏ tiền của mình để sang nước ngoài học một lĩnh vực mà chưa ai có thể bảo đảm sau này dự án chắc chắn thành công.
Phải có đam mê rất, rất lớn thì người ta mới theo đuổi được những ước mơ lớn như vậy.
Sau này, khi tuyển những thế hệ tiếp theo sang Nhật Bản đào tạo, tôi đặc biệt chú ý ba điều: Lòng đam mê, khát vọng cống hiến và tinh thần đồng đội.
Và tôi luôn nhấn mạnh với các bạn: Phải học thực hành, không chỉ học lý thuyết. Đi học cuối cùng phải làm ra được sản phẩm thực tế.

Có lẽ khó khăn lớn nhất những năm ấy chưa chắc là tiền. Khó hơn có thể là thuyết phục người khác rằng Việt Nam thực sự cần công nghệ vũ trụ?
Điều đó đúng. Những ngày khởi đầu, đây là một ngành khoa học quá mới với Việt Nam. Không phải ai cũng tin đó là một việc cần làm, càng không phải ai cũng tin chúng tôi có thể đi đến cùng.
Tôi rất biết ơn những vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các bậc tiền bối, các thế hệ lãnh đạo và đồng nghiệp tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và những người bạn thân thiết yêu vũ trụ đã cho chúng tôi tầm nhìn xa, điểm tựa cả về tinh thần và vật chất để chúng tôi tiếp tục chặng đường gian nan ấy.
Chính sự tin tưởng đó giúp chúng tôi giữ được niềm tin rằng những gì mình đang làm, dù còn rất nhỏ bé ở thời điểm ấy, rồi sẽ có ích cho đất nước.
Khi ấy ông tự trả lời câu hỏi “Việt Nam có cần theo đuổi công nghệ vũ trụ không?” như thế nào?
Tôi nghĩ đơn giản thế này: Ông cha ta đã lấn biển, mở rộng bờ cõi thì không có lý gì ngày nay chúng ta đứng ngoài việc khai thác, sử dụng không gian vũ trụ. Ngày nay, công nghệ hàng không và vũ trụ đã được Đảng và Chính phủ xác định là công nghệ chiến lược.
Vệ tinh và chùm vệ tinh quỹ đạo thấp quan sát Trái đất cũng được xác định là sản phẩm công nghệ chiến lược của đất nước. Nhưng với tôi, điều quan trọng nhất vẫn là phải làm chủ được công nghệ.
Là người Việt Nam, chúng ta không thể chỉ mua mãi. Không thể chỉ phụ thuộc mãi. Ngay từ đầu, chúng tôi đã đặt mục tiêu phải từng bước tự thiết kế, chế tạo vệ tinh “Made in Vietnam”.
Hai chữ “Made in Vietnam” trong công nghệ vũ trụ có ý nghĩa thế nào với ông?
Chúng tôi đã xây dựng một lộ trình. Từ PicoDragon khoảng 1kg, NanoDragon khoảng 4kg, MicroDragon khoảng 50kg, đến dự án vệ tinh radar LOTUSat-1 gắn với đào tạo và chuyển giao công nghệ. Nhưng giá trị lớn không chỉ nằm ở từng vệ tinh.
Điều quan trọng là qua cả quá trình ấy, Trung tâm Vũ trụ Việt Nam đào tạo được một đội ngũ kỹ sư có trình độ, có khả năng từng bước tự chủ chế tạo vệ tinh.
Chúng ta cũng không thể chỉ dừng ở một, hai vệ tinh.
Bước tiếp theo phải là xây dựng một chùm vệ tinh quốc gia để quan sát lãnh thổ và vùng biển của Việt Nam với tần suất cao hơn.

Tôi thử đặt một câu hỏi rất khác. Nếu hôm nay, đứng trước một người nông dân miền Trung vừa trải qua trận lũ quét, hoặc một ngư dân sắp rẽ sóng ra Trường Sa, ông sẽ giải thích thế nào về ý nghĩa của những vệ tinh mà ông và các cộng sự đang dốc sức phát triển?
Trước hết, vệ tinh có thể giúp người nông dân nhìn thấy chính cánh đồng của mình từ trên cao. Không chỉ một cánh đồng, nó có thể nhìn cả một vùng rất rộng lớn.
Từ dữ liệu đó, chúng ta theo dõi được cây lúa phát triển ra sao, dự báo sản lượng, đánh giá mùa vụ. Nhưng câu chuyện đâu có chỉ dừng ở cây lúa.
Trong những ngày mưa lũ, ảnh vệ tinh có thể giúp xác định khu vực nào đang ngập, mức độ ngập và hỗ trợ đánh giá nơi có nguy cơ sạt lở.
Ra đến biển, vệ tinh giúp mở rộng tầm mắt ra ngoài khơi, quan sát tàu thuyền, tài nguyên và những hoạt động trên biển.
Trong nông nghiệp, dữ liệu quan sát Trái đất kết hợp với định vị vệ tinh có thể hỗ trợ canh tác chính xác, từ gieo trồng đến thu hoạch. Trong quản lý tài nguyên, dữ liệu vệ tinh giúp theo dõi đất đai, nguồn nước.
Với biển, chúng ta có thể theo dõi biến động màu nước, một số chỉ tiêu chất lượng nước và các dấu hiệu ô nhiễm.
Nói cách khác, vệ tinh không đơn thuần là đưa một chiếc “máy ảnh” lên trời. Nó là một con mắt nhìn Trái đất từ rất xa, thu nhận những dữ liệu mà mắt thường không thể nhìn thấy.
Như vậy, giấc mơ vũ trụ cuối cùng lại không nằm trên trời?
Đúng. Cuối cùng nó phải quay trở lại phục vụ cuộc sống dưới mặt đất.
Chúng ta phải khai thác dữ liệu vệ tinh để phục vụ bảo vệ chủ quyền, bảo đảm an ninh quốc gia và phát triển kinh tế - xã hội. Và Việt Nam cũng không thể mãi chỉ dừng ở nghiên cứu.
Phải chuyển từ nghiên cứu sang phát triển kinh tế vũ trụ.

Việt Nam đã nghiên cứu, thử nghiệm và có những sản phẩm bước đầu. Vậy điều gì đang ngăn chúng ta đi nhanh hơn?
Từ một sản phẩm nghiên cứu tới triển khai ổn định, ứng dụng rộng rãi và thương mại hóa vẫn còn một chặng đường. Muốn một công nghệ chiến lược đi xa, ngoài vốn còn phải có nhân tài và cơ chế đãi ngộ đủ tốt để họ yên tâm làm việc.
Phải có những tổng công trình sư, kỹ sư trưởng. Phải có các chuyên gia đầu ngành. Và họ phải được tạo điều kiện tương xứng.
Nếu không, rất khó kỳ vọng những công nghệ chiến lược thực sự được triển khai và đi vào đời sống.

Ông đánh giá một người giỏi bằng điều gì? Bằng cấp, chức danh giáo sư, hay số bài báo khoa học?
Theo tôi, chọn nhân tài phải nhìn vào công việc và kết quả thực tế. Không phải cứ có bằng cấp, chức danh cao hay nhiều công bố khoa học là đủ. Quan trọng là người đó có giải quyết được bài toán khó, làm ra sản phẩm, có khả năng dẫn dắt và phối hợp với tập thể hay không.
Tất nhiên phải có kiến thức nền tốt. Nhưng còn phải có đam mê và khát vọng cống hiến. Và phải biết làm việc theo nhóm. Với công nghệ cao, một cá nhân giỏi là chưa đủ; điều quyết định là xây được một đội ngũ đủ mạnh để cùng tạo ra sản phẩm.
Tôi vẫn hay nói vui với các bạn bằng chuyện đá bóng. Một đội bóng có thể có rất nhiều cầu thủ giỏi. Nhưng cuối cùng điều người ta nhìn vào vẫn là: Đội ấy có thắng hay không.
Khoa học và công nghệ cũng vậy, cuối cùng phải có kết quả.
Và nếu muốn giữ những người thực sự làm được việc, chuyện thu hút nhân tài phải đi cùng một cơ chế đãi ngộ tương xứng.

Hơn ba thập niên trước, một người đàn ông bước lên máy bay trở lại Đức với sự háo hức của một nhà khoa học được làm việc trong điều kiện tốt. Mười năm sau, cũng con người ấy lại lên máy bay trở về Việt Nam vì không muốn cuối đời nói “giá như”. Bây giờ nhìn lại, ông nghĩ lựa chọn năm ấy có đáng không?
Tới thời điểm này, tôi cảm nhận cuộc đời mình đã không uổng phí. Tôi thấy mình đã làm được một việc gì đó rất cụ thể cho đất nước.
Một việc “cụ thể cho đất nước”. Sau tất cả những chức vụ, những dự án, những vệ tinh, ông chỉ muốn nói như vậy thôi sao?
Tôi nghĩ như vậy.
Thế còn điều gì ông chưa bằng lòng?
Tôi chỉ có một điều nuối tiếc. Việt Nam hoàn toàn có thể phát triển công nghệ vũ trụ nhanh hơn nữa, sớm hơn nữa. Những nhà khoa học chúng tôi đang nỗ lực gấp 5, gấp 10 mỗi ngày để không phải một lần nào nữa phải thốt lên “giá như”.
Thiết kế: Phạm Luyện
