




Hành trình của đồng chí Đào Ngọc Dung bắt đầu từ một nền tảng bền chắc: gia đình giàu truyền thống cách mạng.
Ở đó, có người cha nghiêm cẩn, mẫu mực; người mẹ hiền hậu, âm thầm vun đắp và một người anh là Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Những giá trị ấy không chỉ là ký ức, mà trở thành nền tảng định hình nhân cách, hun đúc tinh thần trách nhiệm và khát vọng dấn thân của ông ngay từ khi còn rất trẻ.
Điều đáng nói là, phía sau một hành trình nhiều áp lực và thử thách, ông luôn có một “điểm tựa” khác - gia đình nhỏ. Đó là nơi giữ cho ông sự cân bằng, tiếp thêm niềm tin để những trăn trở vì xã hội không dừng lại ở suy nghĩ, mà trở thành hành động.


Từ rất sớm, người thanh niên trẻ nhiệt huyết Đào Ngọc Dung đã cho thấy bước trưởng thành khác biệt. Ngoài 20 tuổi, ông đã là cán bộ chủ chốt của tổ chức Đoàn. Đến tuổi 30, ông trở thành Bí thư Tỉnh đoàn Nam Hà, là Tỉnh ủy viên trẻ nhất cả nước, đồng thời là Bí thư Tỉnh đoàn duy nhất tham gia Ban Thường vụ Tỉnh ủy ở thời điểm đó.
Đó không chỉ là những dấu mốc cá nhân, mà là sự ghi nhận của tổ chức đối với một cán bộ trẻ dám nghĩ, dám làm, dám nhận trách nhiệm.


Từ phong trào thanh niên, ông được Bộ Chính trị điều động về Trung ương, lần lượt đảm nhiệm các cương vị Bí thư Trung ương Đoàn, Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X. Sau này, ông tiếp tục là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng các khóa XI, XII, XIII.
Hành trình ấy không chỉ là quá trình trưởng thành về tổ chức, mà còn là môi trường để ông trực tiếp tham gia định hình nhiều chính sách lớn liên quan đến thế hệ trẻ. Trên cương vị Trưởng ban dự thảo, ông là một trong những người đặt nền móng đầu tiên cho Luật Thanh niên. Ông cũng là người khởi xướng Giải thưởng Lý Tự Trọng, Giải thưởng Lương Định Của; đồng thời là người được phân công ký quyết định ban hành màu áo xanh tình nguyện - biểu tượng quen thuộc của thanh niên Việt Nam hôm nay.

Được tôi luyện từ công tác Đoàn, ông bước tiếp vào những vị trí đòi hỏi tầm nhìn rộng hơn và chiều sâu thực tiễn lớn hơn. Có giai đoạn gần 5 năm, ông gắn bó với 14 tỉnh biên giới phía Bắc và Bắc Trung Bộ, gần dân, sát cơ sở, gắn bó với đồng bào dân tộc, với những vùng đất khó nơi phên giậu Tổ quốc.
Năm 2010-2011, ông được điều động về Yên Bái, sau đó được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy Yên Bái. Trên cương vị này, ông thể hiện rõ phong cách lãnh đạo sâu sát, quyết đoán và nhất quán với mục tiêu phát triển gắn với phục vụ nhân dân.
Từ năm 2011 đến 2016, ông đảm nhiệm cương vị Bí thư Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương. Đây là giai đoạn ông tiếp tục phát huy tư duy chiến lược, năng lực tổ chức ở tầm vĩ mô, góp phần nâng cao hiệu quả vận hành của hệ thống chính trị tại các cơ quan tham mưu chiến lược của Đảng và Nhà nước.


Từ năm 2016 đến tháng 2/2025, ông Đào Ngọc Dung được giao đảm nhiệm cương vị Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (Bộ LĐ-TB&XH). Đây là một lĩnh vực đặc biệt rộng, nhạy cảm, liên quan trực tiếp tới đời sống của hàng chục triệu người dân, từ người lao động, người yếu thế đến các đối tượng chính sách.
Trong gần hai nhiệm kỳ, dấu ấn nổi bật của vị Bộ trưởng là phong cách điều hành năng động, sáng tạo, quyết liệt nhưng giàu tính nhân văn. Ở đó, người dân luôn là trung tâm, còn ổn định xã hội là mục tiêu xuyên suốt.

Dưới sự chỉ đạo của Bộ trưởng Đào Ngọc Dung, ngành LĐ-TB&XH đã tham mưu để Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương ban hành 3 nghị quyết lớn, có ý nghĩa như những “trục xương sống” của chính sách an sinh: Nghị quyết 27 về cải cách chính sách tiền lương; Nghị quyết 28 về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội; Nghị quyết 42 về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội trong giai đoạn mới.
Nếu Nghị quyết 27 đặt nền móng cho việc đổi mới tư duy trả lương theo vị trí việc làm, hiệu quả công việc, từng bước nâng cao thu nhập thực chất cho người lao động, thì Nghị quyết 28 mở đường cho việc xây dựng hệ thống bảo hiểm xã hội đa tầng, linh hoạt, mở rộng diện bao phủ, hướng tới mục tiêu an sinh cho toàn dân.
Còn Nghị quyết 42 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy chính sách xã hội: từ “đảm bảo và ổn định” sang “ổn định và phát triển”, đặt nền móng cho chiến lược chính sách xã hội đến năm 2045.

Diễn đàn Hợp tác lao động Việt Nam - Hàn Quốc do các bộ LĐ-TB&XH, Kế hoạch và Đầu tư (trước đây) phối hợp Đại sứ quán Việt Nam tại Hàn Quốc tổ chức năm 2024. Hàn Quốc bắt đầu tiếp nhận lao động Việt Nam từ năm 1993 và trở thành một trong những thị trường lao động trọng điểm, thu hút nhiều người lao động Việt Nam với mức lương cao và môi trường làm việc tốt. Hiện nay, Việt Nam có khoảng 120 nghìn lao động đang làm việc tại quốc gia này.
Không dừng ở đó, Bộ luật Lao động 2019 được xem là một bước ngoặt có tính lịch sử khi lần đầu tiên vấn đề tuổi nghỉ hưu được luật hóa theo lộ trình. Bộ luật cũng mở rộng quyền của người lao động, thúc đẩy đối thoại, thương lượng tập thể, giúp Việt Nam tiệm cận hơn với các tiêu chuẩn lao động quốc tế.
Trong nhiệm kỳ thứ hai, ông tiếp tục ghi dấu ấn với Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi - một dự án luật khó, được Quốc hội thông qua với tỷ lệ tán thành rất cao. Tinh thần xuyên suốt của quá trình sửa đổi là gia tăng quyền lợi, tăng tính hấp dẫn của hệ thống bảo hiểm xã hội, khuyến khích người lao động bảo lưu thời gian đóng để hưởng lương hưu thay vì nhận bảo hiểm xã hội một lần.


Dưới sự điều hành của Bộ trưởng Đào Ngọc Dung khi đó, những kết quả ngành đạt được - đặc biệt trong lĩnh vực xây dựng thể chế - đã tạo dấu ấn quan trọng. Các chính sách mà ngành LĐ-TB&XH tham mưu không chỉ đáp ứng yêu cầu trước mắt mà còn đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới, vươn mình thành một quốc gia phát triển.
Như Tổng Bí thư Tô Lâm (nay là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước) và nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân từng nhận định, những văn bản chính sách của ngành mang tính chất lịch sử, đánh dấu bước ngoặt quan trọng, mở ra một giai đoạn mới cho sự phát triển chính sách xã hội tại Việt Nam.


Một trong những dấu ấn sâu đậm nhất trong thời gian đứng đầu ngành LĐ-TB&XH của ông là giai đoạn ứng phó với đại dịch Covid-19.
Trong thời gian rất ngắn, 4 gói chính sách hỗ trợ chưa từng có tiền lệ đã được ban hành, hỗ trợ tới 68 triệu người dân và 1,4 triệu người sử dụng lao động, với tổng nguồn lực trên 120.000 tỷ đồng, xuất cấp 150.000 tấn gạo. Đây là quy mô hỗ trợ lớn nhất từ trước đến nay, góp phần giữ ổn định xã hội, duy trì lực lượng lao động và tạo nền tảng cho phục hồi kinh tế. Đánh giá về giai đoạn này, nguyên Thủ tướng Phạm Minh Chính nhiều lần khẳng định: “Chưa bao giờ chúng ta làm tốt công tác an sinh xã hội như giai đoạn vừa qua”.
Song hành với chính sách hỗ trợ ngắn hạn là những nỗ lực bền bỉ trong các lĩnh vực có tính nhân văn sâu sắc. Gần 2 nhiệm kỳ hết lòng vì người có công, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung lúc bấy giờ đã chỉ đạo Bộ LĐ-TB&XH tập trung giải quyết cơ bản hơn 7.000 hồ sơ tồn đọng, đề nghị xác nhận người có công. Trong số đó, hơn 2.400 liệt sĩ và hơn 2.700 thương binh, người hưởng chính sách như thương binh. Với trăn trở “chúng ta còn nợ dân nhiều” (lời phát biểu khi nhận nhiệm vụ Bộ trưởng), ông đã dốc sức tham mưu, xây dựng và hoàn thiện nhiều chính sách lớn, tiêu biểu là Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng.

Một dấu ấn đặc biệt mang chiều sâu đạo lý là quyết định của ông khi đổi tên bia mộ “liệt sĩ vô danh” thành “liệt sĩ chưa xác định được thông tin”. Sự thay đổi ấy không chỉ là điều chỉnh ngôn từ, mà là thay đổi về nhận thức và cách ứng xử. Không ai là vô danh trong ký ức dân tộc; không ai bị lãng quên trong đạo lý “uống nước nhớ nguồn”.



“Tôi xin báo cáo với Đảng, Nhà nước, nhân dân và bạn bè quốc tế, Việt Nam đã về đích xóa nhà tạm trước 5 năm 4 tháng, xóa bỏ 334.234 căn nhà tạm, nhà dột nát” - là phát biểu của ông tại hội nghị tổng kết chương trình và phong trào thi đua "Cả nước chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát" ngày 26/8/2025 .Trong hai nhiệm kỳ “tư lệnh ngành” LĐ-TB&XH, giảm nghèo là một trong những lĩnh vực khiến ông trăn trở nhiều nhất. Ông không nhìn giảm nghèo chỉ ở thu nhập, mà đặt nó trong cách tiếp cận đa chiều: nhà ở, giáo dục, y tế, sinh kế, cơ hội tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản và khả năng tự vươn lên của người dân.
Từ tư duy đó, ông dành nhiều tâm huyết cho các nhóm yếu thế, cho công tác bảo trợ xã hội, cho người khuyết tật, trẻ em, người nghèo, người ở vùng khó khăn. Mỗi mái nhà được dựng lên không chỉ để che mưa, che nắng, mà còn là nền tảng để một gia đình yên tâm bám đất, bám làng, làm ăn, nuôi dạy con cái và vun đắp tương lai.
Hành trình ấy càng trở nên trọn vẹn khi mục tiêu lớn được hoàn thành vào thời điểm ông đã đảm nhiệm cương vị Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo.



Những thành tựu về chính sách lao động - xã hội cùng dấu ấn gần 10 năm lãnh đạo Bộ LĐ-TB&XH của ông là nền tảng quan trọng để các lãnh đạo cấp cao như Tổng Bí thư Tô Lâm, Thủ tướng Chính phủ và Bộ Chính trị tin tưởng giao trọng trách Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo (tháng 2/2025), như nguyên Chủ tịch nước Lương Cường nhận định: Bộ trưởng Đào Ngọc Dung đã có nhiều đóng góp to lớn và quan trọng trong sự nghiệp chung của Đảng, Nhà nước và nhân dân, nhất là lĩnh vực chính sách xã hội và an sinh xã hội.

Ở cương vị mới, Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo Đào Ngọc Dung lúc đó không chỉ “nhận việc”, mà bắt tay ngay vào “đặt nền”: Kiện toàn tổ chức, bảo đảm bộ máy vận hành thông suốt, đồng thời định hình một tư duy quản lý mới - lấy đối thoại làm cầu nối, lấy đồng hành làm phương thức, lấy tôn trọng làm nguyên tắc.
Trong một lĩnh vực đặc thù, nhạy cảm, liên quan trực tiếp tới khối đại đoàn kết toàn dân tộc và ổn định chính trị - xã hội, cách tiếp cận ấy cho thấy tầm nhìn của một người làm quản lý không chỉ xử lý việc trước mắt mà muốn xây nền cho dài hạn.
Ông nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu từ bỏ tư duy cũ, phải “nghĩ sâu, làm lớn, hành động quyết liệt, hiệu quả”; phải để công tác dân tộc và tôn giáo thực sự chuyển động, hướng tới mục tiêu để đồng bào các dân tộc đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển; để đồng bào có tín ngưỡng hay không có tín ngưỡng đều được tôn trọng và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật.


Nhìn lại hành trình 46 năm công tác của đồng chí Đào Ngọc Dung, có thể thấy một mạch xuyên suốt: ở bất cứ cương vị nào, ông cũng theo đuổi triết lý “bốn chữ an” - an ninh, an dân, an sinh, an toàn.
Đó không phải khẩu hiệu, mà là định hướng điều hành, là cách ông tiếp cận các bài toán lớn của đất nước trong những lĩnh vực trực tiếp chạm tới đời sống người dân. Từ tiền lương, bảo hiểm xã hội, người có công, giảm nghèo, đến nhà ở, dân tộc, tôn giáo, điểm chung trong các quyết sách của ông là phải để chính sách đi vào cuộc sống, chạm đến nhu cầu thiết thân nhất của người dân.

Trải qua 46 năm công tác, trong đó 21 năm gắn bó với địa phương và 25 năm đảm nhiệm nhiều trọng trách ở Trung ương, đồng chí Đào Ngọc Dung luôn thực hiện phong cách nhất quán: làm việc đến cùng, không né tránh việc khó, nói thẳng những điều cần nói và đau đáu làm sao để chính sách thực sự phục vụ nhân dân.
Di sản ông để lại vì thế không chỉ là thành tích hay những cột mốc công tác. Quan trọng hơn, đó là nền tảng chính sách, những cách tiếp cận mới và cảm hứng về một người cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám mở đường, nhưng trên hết luôn giữ một trái tim nóng với dân.


Ảnh: Tư liệu TTXVN, tư liệu VietNamNet, tư liệu Trung tâm Công nghệ thông tin và Văn phòng Bộ LĐ-TB&XH (trước đây)
Thiết kế: Team VietNamNet