Hội nghị Trung ương 3 vừa qua đã thống nhất cao nhiều nội dung, quyết định nhiều chủ trương lớn về xây dựng Đảng, hệ thống chính trị, phát triển và bảo vệ đất nước. Trong đó, Trung ương đã thông qua một loạt nghị quyết có ý nghĩa chiến lược như: Nghị quyết về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam; Nghị quyết về Chiến lược An ninh quốc gia; Nghị quyết về xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển; Nghị quyết về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh...

Các quyết sách này cùng hướng tới nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, khả năng quản trị, phát triển, bảo vệ đất nước; làm cho bộ máy của hệ thống chính trị vận hành hiệu quả hơn, nguồn lực được khơi thông, đời sống nhân dân được nâng cao, đất nước phát triển.

VietNamNet phỏng vấn Trung tướng Trần Đức Thuận, đại biểu Quốc hội, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội.

Tôi cho rằng, điểm rất quan trọng cần nhận thức là các nghị quyết được Trung ương ban hành tại hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 14 không phải là những quyết sách riêng lẻ, mà nằm trong một chỉnh thể thống nhất, có mối quan hệ hữu cơ, bổ trợ và thúc đẩy lẫn nhau, nhằm tạo ra một bước chuyển mới về tư duy phát triển, quản trị và bảo vệ đất nước.

Nghị quyết về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam đặt trọng tâm vào việc thay đổi cách thức tạo ra, phân bổ và sử dụng các nguồn lực để phát triển nhanh, bền vững, chất lượng cao. 

Nghị quyết về xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển tập trung vào nền tảng xã hội, con người, văn hóa, pháp luật và môi trường sống. 

Nghị quyết về Chiến lược An ninh quốc gia lại đặt an ninh trong tổng thể phát triển đất nước, chuyển mạnh từ tư duy ứng phó sang chủ động nhận diện, dự báo, phòng ngừa và xử lý nguy cơ từ sớm, từ xa. 

Cùng với đó là những định hướng lớn về biển, đất đai, môi trường và tổ chức, vận hành hệ thống chính trị.

Nhìn ở tầm chiến lược, tôi cho rằng đây chính là yêu cầu đổi mới đồng bộ. Không thể có mô hình phát triển mới nếu thể chế vẫn theo cách cũ; không thể có tăng trưởng nhanh và bền vững nếu quản trị quốc gia không đổi mới; cũng không thể phát triển bền vững nếu không bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội và môi trường hòa bình.

Điều này cũng phù hợp với tinh thần Nghị quyết Đại hội 14 của Đảng: phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa, con người là nền tảng; tăng cường quốc phòng, an ninh và đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên.

Tôi đặc biệt nhấn mạnh một điểm: đổi mới lần này không chỉ là đổi mới để tăng trưởng cao hơn, mà sâu xa hơn là đổi mới để đất nước có năng lực phát triển cao hơn, tự chủ hơn, chống chịu tốt hơn và tạo ra chất lượng sống tốt hơn cho nhân dân. Đây là yêu cầu mang tính chiến lược khi đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới.

Đây là một định hướng có ý nghĩa rất sâu sắc, bởi nó chạm vào bản chất của đổi mới mô hình phát triển.

Nếu chỉ nhìn đổi mới mô hình phát triển dưới góc độ tăng trưởng GDP, chúng ta mới giải quyết được một phần của bài toán. Điều quan trọng hơn là phải trả lời được ba câu hỏi: tạo ra giá trị bằng cách nào, phân bổ nguồn lực và thành quả phát triển ra sao, cuối cùng nhân dân được thụ hưởng những gì từ sự phát triển đó.

Đặt nhân dân và con người vào vị trí trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực có nghĩa là mọi chính sách phát triển cuối cùng phải hướng đến nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, cơ hội phát triển và chất lượng sống của người dân; đồng thời phải tạo điều kiện để người dân thực sự tham gia, đóng góp và trở thành chủ thể của quá trình phát triển.

Đây cũng là lý do khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, dữ liệu và nguồn nhân lực chất lượng cao được xác định là những động lực chủ yếu. Chúng ta đang chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào khai thác các nguồn lực truyền thống sang mô hình dựa ngày càng nhiều vào tri thức, công nghệ, năng suất, chất lượng và sức sáng tạo của con người.

Điểm rất đáng chú ý trong tư duy mới là không đánh đổi chất lượng phát triển để chạy theo tốc độ tăng trưởng. Tăng trưởng phải đi cùng tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, củng cố quốc phòng, an ninh và nâng cao hạnh phúc của nhân dân.

Nói cách khác, mục tiêu cuối cùng của đổi mới mô hình phát triển không chỉ là làm cho nền kinh tế lớn hơn, mà phải làm cho đất nước mạnh hơn, xã hội tốt hơn và người dân có cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn.

Tôi hoàn toàn đồng tình với nhận định này.

Trong thế giới hiện nay, sức mạnh quốc gia không còn có thể đo đơn thuần bằng quy mô kinh tế, dân số hay tiềm lực quân sự. Một quốc gia mạnh còn phải có năng lực dự báo, năng lực thích ứng, năng lực chống chịu và năng lực hành động nhanh trước những thay đổi của môi trường chiến lược.

Thực tiễn cho thấy, nhiều nguy cơ ngày nay không xuất hiện dưới dạng một mối đe dọa đơn tuyến mà có tính tổng hợp, liên ngành, xuyên biên giới và diễn ra trên nhiều không gian: kinh tế, tài chính, công nghệ, dữ liệu, không gian mạng, năng lượng, nguồn nước, lương thực, môi trường, y tế, xã hội...

Chính vì vậy, Nghị quyết về Chiến lược An ninh quốc gia của Trung ương đặt yêu cầu phải chủ động nhận diện, dự báo, phòng ngừa và xử lý từ sớm, từ xa các nguy cơ, trong đó đặc biệt chú trọng cả các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống.

Tôi cho rằng, tư duy quan trọng ở đây là an ninh không chỉ để bảo vệ thành quả phát triển, mà phải tạo môi trường và điều kiện để phát triển. Vì vậy, bảo đảm an ninh kinh tế, an ninh năng lượng, an ninh dữ liệu, an ninh mạng, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực và an ninh con người phải được đặt ngay trong quá trình hoạch định và tổ chức thực hiện các chiến lược phát triển.

Điều này cũng đòi hỏi bộ máy quản trị quốc gia phải chuyển mạnh từ phản ứng sang kiến tạo, từ xử lý sự vụ sang quản trị rủi ro, từ bị động ứng phó sang chủ động chuẩn bị.

Theo tôi, một trong những thước đo quan trọng của năng lực quản trị quốc gia trong kỷ nguyên mới chính là: nhìn xa hơn một bước, chuẩn bị sớm hơn một bước và hành động nhanh hơn một bước.

Tôi cho rằng, đây là vấn đề rất căn bản. Một đất nước muốn phát triển nhanh và bền vững không thể chỉ dựa vào nguồn lực vật chất. Niềm tin, kỷ cương, văn hóa, trách nhiệm và sự đồng thuận xã hội chính là nguồn lực nội sinh rất lớn.

Khi người dân tin tưởng vào đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; khi mỗi người có ý thức tôn trọng pháp luật, có trách nhiệm với cộng đồng và với đất nước thì chi phí xã hội giảm xuống, kỷ cương được củng cố, sức mạnh đoàn kết được phát huy và năng lực phát triển của quốc gia được nâng lên.

Vì vậy, trách nhiệm của người dân trước hết là sống và làm việc theo Hiến pháp, pháp luật, có ý thức công dân; tôn trọng lợi ích chung; chủ động học tập, lao động, sáng tạo và đóng góp vào sự phát triển của cộng đồng và đất nước.

Trong thời đại số, trách nhiệm công dân còn thể hiện ở việc sử dụng thông tin có trách nhiệm, bảo vệ dữ liệu, không tiếp tay cho thông tin sai lệch, không để các hoạt động trên không gian mạng làm tổn hại đến lợi ích quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.

Nhưng tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng trách nhiệm không chỉ thuộc về người dân. Nhà nước phải xây dựng một hệ thống pháp luật công bằng, minh bạch, dễ tiếp cận; bộ máy phải phục vụ nhân dân; cán bộ phải nêu gương; quyền và lợi ích hợp pháp của người dân phải được bảo vệ. Niềm tin xã hội chỉ bền vững khi được xây dựng bằng hiệu quả quản trị, bằng kỷ cương và bằng kết quả cụ thể trong đời sống.

Do đó, xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển chính là xây dựng một nền tảng xã hội vững chắc cho phát triển và bảo vệ Tổ quốc.

Với Quốc hội, yêu cầu lớn nhất hiện nay là chuyển hóa nhanh, đầy đủ và chính xác các chủ trương chiến lược của Đảng thành pháp luật, chính sách và những quyết định có khả năng tổ chức thực hiện trong thực tiễn.

Nghị quyết của Đảng xác định đường hướng và những vấn đề chiến lược; pháp luật của Nhà nước phải thể chế hóa những định hướng đó thành các quy tắc, cơ chế, chính sách cụ thể, minh bạch, khả thi và ổn định.

Vì vậy, Quốc hội cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác lập pháp theo hướng pháp luật phải đi trước một bước, tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực, tạo không gian phát triển và đồng thời kiểm soát chặt chẽ quyền lực, phòng ngừa lợi ích nhóm, tham nhũng, tiêu cực và lãng phí.

Một yêu cầu rất quan trọng là phải khắc phục tư duy quản lý theo kiểu “không quản được thì cấm”. Trong điều kiện phát triển mới, pháp luật cần chuyển mạnh sang tạo lập khuôn khổ để người dân, doanh nghiệp và các chủ thể kinh tế được làm những gì pháp luật không cấm, được cạnh tranh bình đẳng, được sáng tạo và được bảo vệ quyền tài sản, quyền kinh doanh hợp pháp.

Quốc hội đồng thời phải nâng cao chất lượng giám sát việc tổ chức thi hành pháp luật. Bởi thể chế tốt nhưng tổ chức thực hiện không tốt thì mục tiêu chính sách cũng không đạt được.

Tôi cho rằng, yêu cầu đối với Quốc hội trong giai đoạn mới có thể khái quát ở ba chữ: “đúng - nhanh - thực chất”: đúng chủ trương, đúng thực tiễn; nhanh chóng thể chế hóa những vấn đề cấp thiết; và thực chất trong tổ chức thi hành, giám sát, đánh giá tác động.

Đó cũng là cách để biến lợi thế về thể chế thành lợi thế cạnh tranh và biến quyết tâm chính trị thành năng lực phát triển thực tế.

Kỳ họp không thường lệ lần thứ nhất của Quốc hội khóa 16 là một minh chứng sinh động cho yêu cầu chuyển từ tư duy “đợi đủ điều kiện mới làm” sang tư duy chủ động tháo gỡ điểm nghẽn, giải quyết ngay những vấn đề cấp thiết của thực tiễn.

Việc Quốc hội chủ động triệu tập kỳ họp để xem xét, quyết định những vấn đề lớn, cấp bách cho thấy Quốc hội không chỉ thực hiện chức năng lập pháp theo nghĩa truyền thống, mà ngày càng thể hiện rõ vai trò kiến tạo thể chế, đồng hành cùng Chính phủ và các cơ quan trong tháo gỡ khó khăn, khơi thông nguồn lực và mở rộng không gian phát triển.

Điều đáng nói hơn là sự chủ động đó không phải là sự nóng vội, mà là chủ động trên cơ sở bám sát thực tiễn, bám sát chủ trương của Đảng, tôn trọng Hiến pháp, pháp luật và đặt lợi ích quốc gia - dân tộc, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân lên trên hết.

“Ý Đảng hợp với lòng dân” không chỉ thể hiện ở sự đồng thuận về chủ trương, mà quan trọng hơn phải được thể hiện bằng những kết quả cụ thể trong cuộc sống: thủ tục thuận lợi hơn, môi trường đầu tư kinh doanh tốt hơn, nguồn lực được giải phóng, người dân được hưởng lợi nhiều hơn, doanh nghiệp có thêm cơ hội phát triển và bộ máy hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn.

Vì vậy, tinh thần của Quốc hội trong giai đoạn mới cần tiếp tục được thể hiện bằng phương châm: nói đi đôi với làm, quyết sách đi đôi với tổ chức thực hiện, ban hành pháp luật đi đôi với kiểm tra, giám sát và đánh giá hiệu quả.

Tôi tin rằng, khi Đảng đã xác định rõ đường hướng chiến lược; Quốc hội chủ động thể chế hóa; Chính phủ quyết liệt tổ chức thực hiện; các cơ quan tư pháp, Mặt trận Tổ quốc, doanh nghiệp và nhân dân cùng tham gia, thì sức mạnh của cả hệ thống chính trị sẽ được quy tụ thành sức mạnh phát triển.

Đó chính là biểu hiện cụ thể của ý Đảng, lòng dân và hành động thống nhất; đồng thời cũng là yêu cầu rất quan trọng để chúng ta không bỏ lỡ thời cơ lịch sử, đưa đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mới với tâm thế chủ động, tự tin, tự lực, tự cường và khát vọng vươn lên.

Xin cảm ơn Trung tướng!

Ảnh: Phạm Hải - Nguyễn Huế - Hoàng Hà

Đất nước không quên những người tận hiến cho Đảng, cho dân

Đất nước không quên những người tận hiến cho Đảng, cho dân

Quốc khánh là ngày lễ trọng đại, là dịp để mỗi người nhìn lại chặng đường lịch sử vẻ vang của đất nước. Và những đảng viên nhận Huy hiệu 40, 50, 60, 70, 80 năm tuổi Đảng hôm nay là những người mang trong mình một phần lịch sử của chặng đường ấy.