Daihoi14-sapo (1).png
Daihoi14- tit 1 (1).png

Là Ủy viên Trung ương 3 khóa liên tiếp (8,9,10) và từng tham dự nhiều kỳ Đại hội của Đảng, ông cảm nhận như thế nào về tầm vóc, ý nghĩa của Đại hội 14?

Tôi tham gia 4 kỳ Đại hội 8, 9, 10 và 11. Đại hội 8 năm 1996 chia làm hai phần: nội bộ và công khai. Phần nội bộ tập trung giải quyết các vấn đề như kiểm điểm Ban chấp hành Trung ương, công tác nhân sự… Phần công khai thảo luận các văn kiện trình Đại hội và tôi tham gia ở nội dung này.

Nội dung chủ yếu được thảo luận lúc bấy giờ là vấn đề hội nhập, sau khi chúng ta bình thường hóa quan hệ với Mỹ năm 1995 và gia nhập ASEAN. Hai xu thế lớn được đặt ra là tiếp tục công cuộc đổi mới từ Đại hội 6, 7 và khẳng định vị thế hội nhập của Việt Nam.

Tôi còn nhớ sau Đại hội 7 có một luồng dư luận cho rằng chúng ta “hội nhập nhưng hơi chệch hướng”. Vì vậy, Ban chấp hành Trung ương Đảng đã quyết định tổ chức Đại hội giữa nhiệm kỳ khóa 7 để tiếp tục khẳng định rằng con đường đổi mới, hội nhập là đúng hướng và phải kiên trì thực hiện.

Chính vì thế, Đại hội 8 tiếp tục nhấn mạnh công cuộc đổi mới và hội nhập sâu rộng hơn. Đặc biệt, khi ấy Tổng Bí thư Đỗ Mười đã có các chuyến thăm tới những nước công nghiệp phát triển: tháng 4/1995 thăm Hàn Quốc, sau đó là Nhật Bản; tháng 12/1995 thăm New Zealand và Australia. Đây đều là những quốc gia có nền kinh tế phát triển vượt bậc. Các chuyến thăm này để lại trong Tổng Bí thư Đỗ Mười những ấn tượng sâu sắc về vai trò của kinh tế tư nhân, từ đó ông càng quyết liệt hơn trong vấn đề hội nhập.

Ngay sau đó, Tổng Bí thư đưa ra một quyết định rất đổi mới: đề nghị Chính phủ Nhật Bản hỗ trợ Việt Nam một chuyên gia cao cấp góp ý cho văn kiện Đại hội, dù khi đó văn kiện đã được đưa ra lấy ý kiến toàn dân. Đây là một cách làm rất cởi mở, mở đường cho tư duy đổi mới trong những năm sau. Tôi cho rằng Đại hội 8 là đại hội ghi dấu ấn quan trọng đối với công cuộc đổi mới.

Đến Đại hội 9, Đảng tiếp tục khẳng định con đường đổi mới và xác định rõ hơn vị thế của kinh tế tư nhân. Đại hội này cũng bắt đầu đặt vấn đề xem xét lại Cương lĩnh 1991, đặc biệt là nội dung liên quan đến quan hệ sản xuất.

Cương lĩnh 1991 xác định đặc trưng xã hội chủ nghĩa dựa trên “chế độ công hữu tư liệu sản xuất chủ yếu”. Đến Đại hội 10, nội dung này được đưa vào nghị quyết (chưa sửa Cương lĩnh), xác định đặc trưng CNXH ở Việt Nam là “quan hệ sản xuất tiên tiến, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất”. Cách tiếp cận này cho phép quan hệ sản xuất đa dạng hơn, trong đó có kinh tế tư nhân. Đây là điều khiến tôi rất ấn tượng.

Đại hội 11 là kỳ đại hội cuối cùng tôi tham dự với vai trò Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư. Khi đó, tôi đã có ý kiến rất quyết liệt về việc sửa đổi Cương lĩnh liên quan đến quan hệ sản xuất. Ở Trung ương, có ý kiến muốn giữ nguyên như nghị quyết Đại hội 10. Nội bộ đã trao đổi rất căng thẳng về vấn đề này.

Cuối cùng, Đại hội biểu quyết và tiếp tục khẳng định quan điểm của Đại hội 10: đặc trưng CNXH ở Việt Nam dựa trên “quan hệ sản xuất tiên tiến, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất”, không còn coi công hữu là đặc trưng duy nhất. Tôi cho rằng đây là một bước tiến rất quan trọng.

Daihoi14-QUOTE 1.png

Đến Đại hội 14, tôi tham dự phiên khai mạc với tư cách khách mời. Qua các nghị quyết, tham luận và ý kiến thảo luận, tôi nhận thấy có những đột phá rõ rệt, đặc biệt là việc khẳng định mạnh mẽ hơn vai trò của kinh tế tư nhân, tiếp tục con đường đa sở hữu tư liệu sản xuất và gắn với kỷ nguyên mới.

Chúng tôi rất kỳ vọng kỷ nguyên mới sẽ xác định rõ nội hàm của đổi mới trong giai đoạn phát triển mới. Những nội dung mà Đại hội 14 nêu ra và thực hiện được khiến tôi cảm thấy rất phấn khởi.

Tôi hy vọng Đại hội 14 sẽ mở ra một thời kỳ, một kỷ nguyên mới cho sự phát triển của Việt Nam, phù hợp với xu thế phát triển chung của thế giới. Trong bối cảnh toàn cầu biến đổi sâu sắc về địa chính trị, kinh tế và khoa học - công nghệ, chúng ta cần có những bước đi thích hợp để phát triển bền vững và hội nhập hiệu quả.

Nhìn từ thực tiễn hiện nay, theo ông, nhận thức và tư duy về vấn đề này đã có những chuyển biến gì, đặc biệt trong bối cảnh Bộ Chính trị vừa ban hành nhiều nghị quyết quan trọng với tư duy phát triển mới, trong đó có nghị quyết về phát triển kinh tế tư nhân?

Tôi cho rằng việc phát triển kinh tế tư nhân thông qua các nghị quyết Bộ Chính trị và Ban chấp hành Trung ương vừa ban hành là một bước đi rất quan trọng. Tôi kỳ vọng nghị quyết này sẽ khai thác được sức mạnh to lớn của kinh tế tư nhân.

Thực tế cho thấy, ở bất kỳ quốc gia nào, trong bất kỳ giai đoạn phát triển nào, khu vực kinh tế tư nhân cũng đóng vai trò rất lớn đối với tăng trưởng kinh tế. Nhà nước không thể và cũng không nên gánh vác tất cả.

Daihoi14-QUOTE 2.png

Một bài học rút ra qua nhiều năm là dù chúng ta khẳng định kinh tế nhà nước, doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò chủ đạo nhưng hiệu quả và năng suất của khu vực này vẫn bộc lộ nhiều hạn chế. Thực tiễn cho thấy doanh nghiệp nhà nước chỉ nên tập trung vào một số lĩnh vực thật sự cần thiết, còn lại cần tạo điều kiện để kinh tế tư nhân có sân chơi bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh, qua đó tạo đột phá cho nền kinh tế. Chính khâu này là điểm then chốt của sự đột phá.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, Hàn Quốc tạo bước phát triển vượt bậc nhờ các tập đoàn tư nhân lớn, Nhật Bản trong thời kỳ chiến tranh cũng phát triển mạnh nhờ các tập đoàn kinh tế tư nhân. Những tập đoàn tư nhân chính là động lực thúc đẩy sự phát triển của các nền kinh tế, đặc biệt là các “con rồng châu Á” trước đây. Vì vậy, chúng ta cũng cần khai thác và mở rộng tối đa tiềm năng của khu vực kinh tế tư nhân.

Daihoi14-tit 2 (1).png

So với các kỳ Đại hội gần đây, Đại hội 14 diễn ra khá nhanh gọn, với thông điệp rất rõ ràng về tinh thần “hành động”. Ông nhìn nhận như thế nào về tinh thần mà Tổng Bí thư nhấn mạnh: “Biến ý chí thành hành động, biến quyết sách thành kết quả cụ thể; nói là làm, làm ngay, làm đúng, làm quyết liệt, làm đến cùng và làm hiệu quả”?

Tôi cho rằng việc Đại hội nhấn mạnh tinh thần “hành động” là một điều rất đáng mừng. Thực tế lâu nay cho thấy, nghị quyết của chúng ta đúng, ai cũng nói đúng, nhưng vấn đề quan trọng hơn lại nằm ở khâu thực thi. Việc thực hiện nghị quyết đòi hỏi bản lĩnh, sự quyết đoán của những người trực tiếp tổ chức thực hiện.

Tôi xin lấy ví dụ về tuyến đường La Thành. Nghị quyết của Thành ủy Hà Nội về tuyến đường này đã có từ nhiều năm, qua nhiều nhiệm kỳ, nhiều đời bí thư nhưng mãi chưa làm được. Ngay từ trước, chúng tôi đã xác định đây là tuyến Vành đai 1, là con đường huyết mạch của Thủ đô. Thế nhưng suốt nhiều nhiệm kỳ, nghị quyết vẫn nằm trên giấy.

Gần đây, nghị quyết đó mới thực sự được thể hiện bằng hành động, và điều quan trọng là hành động phải quyết liệt, dám làm, làm ngay. Chỉ trong vài tháng, vấn đề giải tỏa, đền bù - vốn là điểm nghẽn kéo dài qua khoảng 3 nhiệm kỳ - đã được giải quyết. Trong khi đó, chính khâu giải tỏa, đền bù này đã khiến dự án chậm trễ suốt nhiều năm. Nếu mỗi nhiệm kỳ đều kéo dài như vậy thì rất khó có thể phát triển.

Vấn đề cốt lõi ở đây là phải xác định rõ lợi ích của đại đa số phải được đặt cao hơn lợi ích cục bộ. Trước đây, Hà Nội không giải quyết được là do vướng lợi ích cục bộ của một bộ phận người dân, trong khi nhu cầu phát triển của cả thành phố đòi hỏi giao thông phải đi trước một bước.

Daihoi14-QUOTE 3.png

Đây là ví dụ rất rõ cho thấy, nghị quyết đã có, chủ trương đã đúng, nhưng phải có hành động, và hành động phải quyết liệt, đồng thời chấp nhận rằng lợi ích cục bộ của một bộ phận cần nhường chỗ cho lợi ích chung của tập thể và cộng đồng. Đó là điều cần nhận thức rõ, cần làm và cần được chỉ đạo tập trung để huy động nguồn lực cho phát triển, nhất là trong bối cảnh hiện nay.

Câu chuyện ông nêu cũng tương tự như câu chuyện sắp xếp, tinh gọn bộ máy vừa qua. Rất nhiều kỳ đại hội đã đề cập vấn đề này, Đại hội 12 cũng đã có Nghị quyết 18, nhưng phải đến cuối nhiệm kỳ 13 mới thực hiện quyết liệt và tạo đột phá. Điều này có phải là minh chứng cho chủ trương “dám nghĩ, dám làm” và quyết tâm hành động đúng như tinh thần của Đại hội 14 cũng như thông điệp Tổng Bí thư đưa ra?

Theo tôi, đó chính là “hành động” của tinh thần “dám nghĩ, dám làm”, đúng với thông điệp mà Tổng Bí thư nhiều lần nhấn mạnh. Việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy bước đầu đã mang lại hiệu quả, nhất là trong tinh giản biên chế.

Tuy nhiên, cần đặc biệt lưu ý đến yếu tố con người, làm sao để bảo đảm sự ổn định và phát triển của từng con người trong bộ máy. Ở đây, từng con người không phải là lợi ích riêng lẻ, mà khi cộng lại sẽ tạo thành sức mạnh chung của cả hệ thống.

Vì vậy, vấn đề này cần được xử lý thấu đáo, bảo đảm quyền lợi chính đáng của mỗi cá nhân trong một hệ thống lớn, qua đó hài hòa giữa yêu cầu tinh gọn bộ máy và mục tiêu phát triển hiệu quả, đồng thời phát huy tối đa trí tuệ, năng lực của đội ngũ cán bộ để đóng góp cho bộ máy mới.

Như ông nói, điều then chốt để hiện thực hóa các mục tiêu mà Đại hội 14 đề ra vẫn nằm ở hành động, ở khâu triển khai thực hiện. Ngay sau Đại hội, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Chỉ thị số 01 của Bộ Chính trị về quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội 14, tiếp đó là bài viết “Tiến lên, toàn thắng ắt về ta” như một lời hiệu triệu, kêu gọi toàn dân chung sức hiện thực hóa mục tiêu phát triển đất nước.

Phải nói rằng đây là một sự đổi mới thực sự. Việc Tổng Bí thư ngay sau khi Đại hội bế mạc đã ban hành ngay một chỉ thị, một thông điệp, một lời hiệu triệu cho thấy cách làm rất mới, rất quyết liệt.

Chỉ thị số 01 ngày 23/1 của Bộ Chính trị về nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội 14 được ban hành rất kịp thời.

Với cách chỉ đạo nhanh, rõ và quyết liệt như vậy, tôi tin rằng việc triển khai nghị quyết sẽ mang lại hiệu quả cao hơn.

Tôi kỳ vọng rằng, cùng với tinh thần hành động được đặt lên hàng đầu, hiệu quả thực hiện Nghị quyết Đại hội 14 trong thực tiễn sẽ rõ nét và thực chất hơn.

Daihoi14-tit 3 (1).png

Để hiện thực hóa tinh thần đó, việc kiện toàn tổ chức bộ máy cho nhiệm kỳ mới cần được thực hiện như thế nào, thưa ông?

Theo tôi, việc kiện toàn nhân sự và bộ máy cho nhiệm kỳ mới lần này sẽ được triển khai ngay, và thực tế cho thấy Quốc hội cũng vào cuộc rất nhanh.

Trước đây, việc kiện toàn bộ máy nhiệm kỳ mới thường kéo dài khá lâu. Đại hội Đảng được tổ chức vào tháng 1 nhưng phải đến tận tháng 8, bộ máy mới mới được kiện toàn. Cá nhân tôi từng là bộ trưởng và vẫn điều hành công việc trong suốt 7 tháng sau Đại hội Đảng.

Lần này thì khác. Theo lộ trình hiện nay, ngày 15/3 sẽ tiến hành bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND khóa mới; đầu đến giữa tháng 4, Quốc hội khóa mới có thể họp.

Luật quy định Quốc hội khóa mới họp sau 60 ngày kể từ ngày bầu cử, nhưng nghị quyết của Quốc hội vừa rồi và trong Đảng cũng đã quán triệt thống nhất tổ chức kỳ họp Quốc hội khóa mới ngay trong đầu tháng 4. Như vậy, chỉ khoảng 2 tháng rưỡi sau đại hội, chúng ta đã có thể kiện toàn tổ chức, bộ máy cho nhiệm kỳ mới. Đây là một bước đi rất nhanh và rất mới.

Trước đây, chúng ta phải chờ Quốc hội kết thúc nhiệm kỳ, thường đến tháng 7 mới có thể kiện toàn bộ máy. Nay việc bầu cử được đẩy sớm hơn khoảng 2 tháng, Quốc hội họp sớm hơn 1 tháng so với thông lệ (20/5). Theo tôi, trong điều kiện công nghệ hiện nay, các quy trình bầu cử và kiểm phiếu hoàn toàn có thể rút ngắn hơn nữa, không nhất thiết phải chờ đủ 60 ngày như trước đây.

Điều đó cho thấy sự chỉ đạo rất quyết liệt của Ban chấp hành Trung ương và của Tổng Bí thư: phải làm ngay để triển khai nhiệm vụ mới với bộ máy mới.

Cách làm này là hoàn toàn hợp lý. Tâm lý “cuối nhiệm kỳ” thường khiến hành động chùng lại, điều này không chỉ ở ta mà ở nhiều nước cũng vậy. Muốn tạo khí thế mới thì phải sớm kiện toàn tổ chức, bộ máy cho nhiệm kỳ mới.

Daihoi14-QUOTE 4.png

Khi có bộ máy mới, nhân sự mới, bước vào đầu nhiệm kỳ, tinh thần làm việc và khí thế sẽ khác hẳn. Vì vậy, nếu đã xác định thay đổi nhân sự trong bộ máy thì triển khai càng sớm càng tốt. Đây là tâm lý tự nhiên của con người và cũng là quy luật chung trong quản trị xã hội.

Khi đã xác định sẽ nghỉ thì tâm lý chung cũng muốn bàn giao sớm để người mới bắt tay vào việc, không nhất thiết phải kéo dài.

Đại hội 14 đã bầu ra 200 ủy viên Trung ương khóa mới, Trung ương cũng đã bầu Bộ Chính trị và Tổng Bí thư khóa mới. Ông kỳ vọng gì vào đội ngũ lãnh đạo mới trong việc tổ chức thực hiện các quyết sách đột phá mà Đại hội đã thông qua?

Qua theo dõi, tôi thấy đội ngũ lãnh đạo được bầu tại Đại hội 14 xuất hiện nhiều gương mặt trẻ. Tôi kỳ vọng rất lớn vào lớp lãnh đạo trẻ hơn, năng động hơn, nhanh nhạy hơn trong việc nắm bắt các xu thế toàn cầu, từ những biến động về địa chính trị đến sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ.

Tôi tin rằng, với tư duy mới, sự năng động và tinh thần dám nghĩ, dám làm, đội ngũ lãnh đạo nhiệm kỳ này sẽ đưa ra những quyết sách phù hợp hơn, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới, đồng thời tổ chức thực hiện một cách quyết liệt và hiệu quả để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Việt Nam hoàn toàn có cơ hội để tạo ra đột phá

Từng đảm nhiệm vai trò Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư, ông đánh giá ra sao về các mục tiêu, chỉ tiêu và các định hướng phát triển cụ thể được Đại hội 14 đề ra trong giai đoạn tới như tăng trưởng GDP bình quân cho giai đoạn 2026-2030 từ 10%/năm trở lên, GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD?

Về mục tiêu tăng trưởng 2 con số, trong nhiều năm qua, chúng ta chưa đạt được mức này, tăng trưởng cao nhất cũng chỉ khoảng 7,5%.

Nhìn lại lịch sử, nhiều quốc gia từng đạt tốc độ tăng trưởng cao, nhưng để duy trì mức tăng trưởng 2 con số thì không nhiều. Nhật Bản trong giai đoạn tăng trưởng cao nhất cũng chỉ đạt trên 9%, Trung Quốc cũng ở mức xấp xỉ như vậy, nhưng chưa bao giờ họ duy trì tăng trưởng 2 con số trong thời gian dài.

Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, Đại hội 14 đặt ra yêu cầu đột phá, mục tiêu cao hơn là điều có thể hiểu được. Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ và lợi thế của các nước đi sau, Việt Nam hoàn toàn có cơ hội tận dụng những thành tựu khoa học - công nghệ mới nhất để phát triển kinh tế, tạo ra những đột phá mới.

Tôi kỳ vọng rằng, với sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt, các giải pháp và mục tiêu cụ thể, cùng việc ứng dụng hiệu quả khoa học - công nghệ của thời kỳ mới, chúng ta có thể tiến gần tới mục tiêu này.

Đây là một mục tiêu rất khó, đòi hỏi quyết tâm chính trị rất cao, sự chỉ đạo, điều hành hết sức quyết liệt và việc sử dụng nguồn lực một cách hợp lý, hiệu quả, đồng thời đòi hỏi cả hệ thống phải nỗ lực vượt qua nhiều khó khăn, thách thức trong chặng đường phía trước.