Buổi sáng đầu tháng 5/2026, con đường bê tông dẫn vào bản Huổi Khon, xã Nậm Kè (huyện Mường Nhé cũ, tỉnh Điện Biên) khô ráo sau cơn mưa đêm.

Đứng trước hiên nhà mới dựng, Giàng A Xì nói chậm rãi: “Giờ ai dụ dỗ nữa, tôi báo cán bộ ngay”.

15 năm trước, người đàn ông này từng bỏ lại nương rẫy, vợ con, nghe theo một lời hứa mơ hồ: đi “đón vua”. Dù lúc đó “không hiểu gì, nhưng tôi vẫn đi theo”.

“Trong 3 năm tôi cải tạo, không có ai đến thăm. Gia đình sống trong cảnh nheo nhóc”, Giàng A Xì - bố của 9 người con chia sẻ. 

Điện Biên là tỉnh miền núi biên giới phía Tây Bắc với 19 dân tộc cùng sinh sống. Trong đó, người Mông chiếm tỷ lệ cao nhất (khoảng 35-38%). Bà con người Mông sống nghĩa hiệp nhưng rất cả tin. Bên cạnh đó, đời sống của nhiều hộ dân còn nhiều khó khăn. Đầu năm 2011, một nhóm cầm đầu gieo vào lời hứa về một cái gọi là “nhà nước Mông” tự trị, có đất, có tiền, có “vua”.

Cuối tháng 4/2011, từng tốp người Mông rời bản. Từ Tây Nguyên, nhiều tỉnh phía Bắc, họ kéo về Mường Nhé gây nên một cảnh hỗn loạn chưa từng thấy.

Thượng tá Mùa A Páo (Trưởng Công an xã Nậm Kè), khi đó là Phó đội trưởng Đội An ninh Công an huyện Mường Nhé kể: “Nhiều người đi xe máy, khi gặp chốt chặn của công an thì bỏ lại phương tiện, băng rừng đi bộ. Không chỉ người trong tỉnh, người từ nhiều địa phương khác cũng tìm đến. Số lượng lên tới khoảng 7.000 người”.

Tại bản Huổi Khon, những lều bạt được dựng lên giữa đồi, cách xa nguồn nước.

Là người trực tiếp chứng kiến sự việc, tham gia giúp đỡ các lực lượng chức năng, ông Sùng A Kỷ (Trưởng Ban Công tác mặt trận bản Huổi Khon 1), khi đó là trưởng bản nhớ lại: “Người trong bản tham gia rất ít, chủ yếu là người ngoài đến dựng lán, căng bạt. Họ mang theo cả gia đình với chăn, màn, quần áo. Người già nằm mệt mỏi trên sàn, trải chăn, bạt tạm bợ. Trẻ con nheo nhóc khóc. Họ nói là đi đòi đất, nhưng theo tôi đó là tuyên truyền sai. Tôi xác định đây là việc trái pháp luật nên kiên quyết không cho bà con trong bản tham gia”. 

Ông Sùng A Kỷ (Trưởng Ban Công tác mặt trận bản Huổi Khon 1)

Tại khu vực ngã ba Huổi Khon, những lán trại được dựng lên nhanh chóng. Tre được chặt trong rừng, bạt được căng tạm. Các gia đình tụ lại thành từng cụm, mỗi lán vài hộ.

Ông Sùng A Kỷ nhớ lại: “Họ kiểm soát người ra, vào”.

Ông Vàng A Chính (Tỉnh ủy viên, Bí thư xã Mường Chà), khi đó là Đội phó Đội tăng cường cơ sở, phụ trách địa bàn Quảng Lâm - Nậm Kè - Mường Toong cho hay: “Thực tế, đa số người dân không hiểu rõ, chỉ nghe theo lời kêu gọi”. Qua công tác nắm bắt tình hình, ông được biết có rất nhiều người đã bán nhà cửa, toàn bộ tài sản để đi theo đối tượng xấu.

Ở Huổi Khon, hàng nghìn con người tụ lại, chờ đợi một điều mà chính họ cũng không thể gọi tên rõ ràng. Trong ký ức của Giàng A Xì, đó là những ngày mơ hồ và đói khát, “không hiểu gì mà vẫn đi theo”.

Huổi Khon vào những ngày cuối tháng 4/2011 tình hình căng như dây đàn. Khi nhận lệnh vào điểm nóng, Phó đội trưởng Mùa A Páo tức tốc lên đường, hành trang mang theo là bộ quần áo đang mặc trên người. 

“Tôi đưa các đồng chí trinh sát vào rừng nắm bắt tình hình. Đi từ 10h đêm đến 4h sáng mới về. Anh em chúng tôi không dám soi đèn, không dám gọi nhau. Vắt cắn thì cứ để thế thôi. Sáng về anh em mới bắt vắt cho nhau. Vắt bám đầy đầu, đầy người”.

Trong quá trình làm nhiệm vụ, lực lượng công an làm việc liên tục ngoài trời, không có thời gian ăn uống, điều kiện rất khó khăn. 

“Lúc đầu ai cũng có mũ nhưng lúc sau thì không biết mũ đi đâu hết”, Thượng tá Mùa A Páo nhớ lại.

Trong khi đó, bên trong Huổi Khon, đám đông vẫn chưa có dấu hiệu tan rã. Ngày 4/5/2011, giữa lúc tình hình tại Mường Nhé diễn biến phức tạp, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khi đó cùng lãnh đạo một số bộ, ngành Trung ương trực tiếp lên địa bàn bằng trực thăng. Trước đó, Thứ trưởng Bộ Công an - Trung tướng Tô Lâm (hiện là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước) đã có mặt tại hiện trường.

Công an tỉnh dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thứ trưởng Tô Lâm đã xây dựng một kế hoạch hết sức tỉ mỉ, cụ thể và tính toán đến từng chi tiết nhỏ nhất.

Các mũi trinh sát sau những đêm xuyên rừng đã đánh giá mức độ nguy hiểm của những tên cầm đầu, với các thông tin liên quan như vũ khí nóng, dao, gậy và nỏ. 

Điều khiến Thứ trưởng Bộ Công an Tô Lâm và lực lượng chỉ đạo lo ngại hơn cả không nằm ở yếu tố vũ khí, mà là tình trạng bên trong khu tụ tập. Sau nhiều ngày, hàng nghìn người rơi vào cảnh thiếu lương thực, thiếu nước, điều kiện vệ sinh xuống cấp nghiêm trọng. Nhiều người già và trẻ em có dấu hiệu suy kiệt, ốm yếu.

Chính vì vậy, bên cạnh việc xây dựng kế hoạch tác chiến, Thứ trưởng Tô Lâm chỉ đạo phải xây dựng ngay phương án đưa bà con trở về quê. Hàng chục xe khách được huy động, trên xe có sẵn bánh mì, nước uống, nhân viên y tế...

Sáng 6/5/2011, mưa khiến con đường vào bản lầy lội. Bùn đất đỏ quạch, nhão nhoét. Các kế hoạch của lực lượng công an được triển khai nhanh chóng. Chỉ sau thời gian ngắn, những tên cầm đầu bị bắt giữ.

Các tổ công tác đến từng lều lán nắm tình hình, tuyên truyền, vận động cho bà con hiểu. Thượng tá Mùa A Páo cho hay: “Chúng tôi xác định được một đối tượng cầm đầu là Mùa A Tháng. Được tuyên truyền, giáo dục, nhận thức rõ sai lầm, Mùa A Tháng dùng loa thuyết phục người dân quay về nơi ở cũ, không tụ tập gây mất an ninh trật tự". 

Lăn lộn ở Mường Nhé suốt nhiều ngày, ông Vàng A Chính vẫn nhớ, lãnh đạo Bộ Công an cũng lội suối, bùn đất để tới từng khu lán trại vận động bà con về quê hương cũ, giảng giải cho họ hiểu rõ chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với người bị lầm lỗi, nhẹ dạ.

“Người Mông nói được tiếng Việt khá ít. Tôi là người Mông, lại là trinh sát địa bàn, người dân quen tôi nhiều. Tôi trở thành phiên dịch của lãnh đạo Bộ”, ông Chính kể.

Ông Chính nhớ, lãnh đạo Bộ Công an nói, việc khó khăn vất vả của bà con thì Đảng, Nhà nước và chính quyền nắm được rồi. Bộ Công an sẽ tham mưu cho Trung ương, Đảng, Nhà nước. Đồng bào dân tộc mình ở vùng sâu, vùng xa sẽ được quan tâm nhiều hơn.

Từng nhóm người bắt đầu rời lán. Dòng người xuống núi mỗi lúc một đông. Xe được điều vào. Người già, trẻ nhỏ được hỗ trợ. Lực lượng y tế khám bệnh, cấp phát lương thực.

“Nhiều bà con đi xe máy không có xăng để về, cán bộ chiến sĩ huy động chở xăng đổ đầy bình cho bà con. Nhiều người không có tiền về quê được cấp tiền đi lại và một khoản để có thể ổn định cuộc sống”, Thượng tá Mùa A Páo nhớ lại. 

16h, những ngọn đồi trở lại sự bình yên.

Thượng tá Mùa A Páo cho hay: “Chúng tôi hỏi han, hỗ trợ bà con vì nhiều người đi theo tiếng gọi của kẻ xấu nên nhà cửa bị người khác chiếm mất, không còn đồ đạc, tài sản. Lúc giải quyết xong khoảng 7h tối. Tôi tiếp tục nhận nhiệm vụ vào xã Pá Mỳ để gặp gỡ, động viên, nắm bắt tình hình người dân thiếu cái gì để hỗ trợ. 

Tôi phải gọi điện cho đồng chí Bí thư xã nấu cơm cho ăn vì cả ngày chưa có gì vào bụng. Sau khi ăn xong, anh em chia nhau đi từng hộ dân để tuyên truyền đến 10h30 đêm mới về. Hôm sau, chúng tôi lại tiếp tục công việc như thế cho đến khi bà con ổn định mới trở về. Bộ quần áo duy nhất của tôi cứng bùn đất và mồ hôi”.

Sau cuộc tụ tập đông người, Giàng A Xì phải đi cải tạo 3 năm. Ngày trở về, ông gần như trắng tay. Chính quyền địa phương không bỏ rơi người lầm lỡ, ông được hỗ trợ xây nhà từ chương trình “xóa nhà tạm, nhà dột nát”.  

Đứng bên căn nhà mới dựng, Giàng A Xì gãi đầu ân hận: “Giờ tôi hiểu rồi”.

Ở Huổi Khon 1, ông Sùng A Kỷ cùng bà con lập tổ an ninh. “Chúng tôi thành lập tổ an ninh trong bản để kiểm soát người lạ, nếu có dấu hiệu bất thường thì báo ngay cho công an xã. Hiện nay, đời sống bà con đã ổn định hơn. Một số hộ ngoài trồng lúa đã chuyển sang trồng cà phê, làm thuê tại các công ty. Bản cũng được hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát, làm đường bê tông, điều kiện đi lại tốt hơn trước rất nhiều”, ông chia sẻ.

Buổi trưa tháng 5, đứng ở ngã ba Huổi Khon, nơi từng kín đặc lán trại năm nào giờ có con đường bê tông, những nhà mái bằng của người dân được dựng lên, bên cạnh đó là hàng tạp hoá, tiệm sửa xe máy… Trẻ em nô đùa, người lớn đi xe máy chở con đi học về.

Không còn những đoàn người kéo đến. Không còn những đêm căng thẳng giữa rừng.

15 năm, quãng thời gian đủ để một bản làng thay da đổi thịt. Nhưng ký ức thì không dễ phai.

Trong câu chuyện của những người từng đi qua biến cố ấy, có một lát cắt khác của những người từng ở “phía bên kia”. Đó là Tráng A Chớ (trú tại xã Mường Nhé), một đối tượng cầm đầu, cốt cán, hoạt động quyết liệt, có uy tín trong nhóm người Mông tại địa phương. Chớ đã trả giá bằng 12 năm tù. Năm 2023, ông trở về bản, bắt đầu lại từ gần như con số 0.

“Ra tù, tôi không còn nhà cửa, không có gì cả. Chỉ còn bố mẹ và 4 đứa con”, ông nói, giọng đều, ánh mắt không tránh né.

Hơn một thập kỷ trong trại giam, vợ Tráng A Chớ đã rời đi. Bốn con của Chớ do bố mẹ nuôi. Quãng đời cũ, Tráng A Chớ không muốn nhắc lại.

“Chuyện cũ qua rồi thì để nó qua. Giờ mình chỉ nghĩ đến làm ăn, nghĩ đến gia đình”.

Bắt đầu lại ở tuổi không còn trẻ, ông chọn cách đơn giản nhất: làm những gì mình hiểu và hỏi trước những gì mình chưa rõ. Từ việc đi rừng, đến thu mua sắn, nông sản, ông đều hỏi cán bộ địa phương để tránh vi phạm.

“Giờ làm gì cũng hỏi trước, cái gì không đúng thì không làm nữa”, Tráng A Chớ nói.

Cuộc sống dần ổn định. Những bao sắn khô phơi trước sân, những chuyến hàng nhỏ bán cho thương lái… từng bước mang lại nguồn thu. “Trước mình không biết làm, giờ có định hướng rồi, thu nhập cũng khác”, ông cười, nụ cười hiền. Có lúc, ông nói mình đã “mất hết”. Nhưng rồi tự sửa lại: “Không, mình vẫn còn con, còn bố mẹ. Thế là giàu rồi”.

Trở lại bản sau hơn 10 năm, điều khiến ông bất ngờ không chỉ là cuộc sống của riêng mình mà là sự đổi thay của cả bản.

“Ngày xưa toàn nhà tranh, giờ người ta làm nhà mới hết rồi”, ông nói.

Những con đường mới, những mái nhà mới, những đứa trẻ đến trường… tất cả như một lớp phủ khác lên ký ức cũ. Những câu chuyện như của Tráng A Chớ, Giàng A Xì không phải là cá biệt. Có người từng sai lầm, có người từng bị lôi kéo nhưng rồi họ đã trở lại, lặng lẽ làm lại cuộc đời.

Thiết kế: Trần Hằng