Việt Nam không lựa chọn con đường phát triển dễ dàng, mà lựa chọn con đường phát triển bền bỉ bằng trí tuệ, bản lĩnh và khát vọng vươn lên của cả dân tộc.



Năm 2025 là năm cuối thực hiện Nghị quyết Đại hội 13, cũng là giai đoạn đất nước đứng trước những quyết sách mang tính bước ngoặt, trong đó có việc sắp xếp lại đơn vị hành chính cấp tỉnh, “sắp xếp lại giang sơn” nhằm mở rộng không gian phát triển. Trước thềm Đại hội 14, VietNamNet trao đổi với đại biểu Quốc hội Hà Sỹ Đồng, nguyên quyền Chủ tịch tỉnh Quảng Trị (cũ) về những mục tiêu quan trọng của đất nước.
Thưa đại biểu Quốc hội Hà Sỹ Đồng, ông nhìn nhận như thế nào về ý nghĩa lịch sử của giai đoạn này và những yêu cầu đặt ra đối với tư duy phát triển quốc gia trong chặng đường sắp tới?
Năm 2025 là năm cuối thực hiện Nghị quyết Đại hội 13, đồng thời cũng là thời điểm đất nước đứng trước những quyết sách mang tính bước ngoặt, có ý nghĩa định hình lâu dài đối với không gian phát triển quốc gia.
Tôi cho rằng, đây là một giai đoạn lịch sử rất đặc biệt, bởi chúng ta không chỉ tổng kết một nhiệm kỳ, mà còn đang chuẩn bị mở ra một chu kỳ phát triển mới với tầm nhìn dài hạn hơn, yêu cầu cao hơn và áp lực lớn hơn.

Việc sắp xếp lại đơn vị hành chính cấp tỉnh, theo cách nói hình tượng là “sắp xếp lại giang sơn”, không đơn thuần là điều chỉnh địa giới hay tổ chức bộ máy, mà thực chất là tái cấu trúc không gian phát triển của đất nước. Quyết sách này nhằm khắc phục tình trạng phát triển manh mún, phân tán nguồn lực, đồng thời hình thành những vùng kinh tế có quy mô đủ lớn, đủ sức cạnh tranh và lan tỏa động lực phát triển.
Điều đó đặt ra yêu cầu rất cao đối với tư duy phát triển quốc gia trong giai đoạn tới. Chúng ta phải chuyển từ tư duy phát triển theo địa giới hành chính sang tư duy phát triển liên vùng, tích hợp, từ tư duy nhiệm kỳ sang tư duy chiến lược dài hạn, từ quản lý hành chính sang kiến tạo phát triển. Đại hội 14 vì vậy không chỉ là đại hội tổng kết, mà phải là đại hội mở đường, xác lập tầm nhìn và phương thức phát triển mới cho đất nước trong nhiều thập niên tới.

Dự thảo Báo cáo chính trị đặt ra mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Ông nhìn nhận mục tiêu này như thế nào?
Tôi cho rằng các mục tiêu đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045 không chỉ là những chỉ tiêu kinh tế - xã hội mà là sự kết tinh cao nhất của khát vọng phát triển dân tộc trong thời đại mới.
Lần đầu tiên, mục tiêu trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045 được đặt ra một cách nhất quán, xuyên suốt và gắn chặt với hệ giá trị phát triển toàn diện của đất nước.
Mốc năm 2030 không chỉ là một đích đến trung hạn mà là nấc thang bản lề, quyết định việc Việt Nam có đủ năng lực nội sinh để bước sang giai đoạn phát triển cao hơn hay không. Nếu vượt qua được mốc này bằng chất lượng tăng trưởng thực chất, bằng năng suất lao động, bằng khoa học - công nghệ và bằng một nền kinh tế có sức cạnh tranh cao thì mục tiêu 2045 sẽ có cơ sở vững chắc. Ngược lại, nếu chỉ đạt được bằng mở rộng quy mô, bằng tăng trưởng chiều rộng, thì nguy cơ mắc kẹt ở trình độ trung bình sẽ vẫn hiện hữu.

Điểm rất quan trọng là các mục tiêu phát triển lần này không tách rời kinh tế khỏi xã hội, không tách tăng trưởng khỏi con người. Phát triển được đặt trong một chỉnh thể thống nhất: Phát triển nhanh nhưng phải bền vững, giàu mạnh nhưng phải văn minh, tăng trưởng kinh tế phải song hành với tiến bộ, công bằng xã hội, với hạnh phúc và chất lượng sống của nhân dân. Đây là bước phát triển rất rõ nét trong tư duy lãnh đạo và quản trị quốc gia.
Tuy nhiên, cũng cần nói thẳng rằng đây là những mục tiêu cực kỳ thách thức. Để đạt được, không thể trông chờ vào quán tính cũ hay những biện pháp tình thế. Điều đó đòi hỏi một cuộc đổi mới mạnh mẽ và toàn diện hơn về thể chế, về mô hình tăng trưởng, về chất lượng nguồn nhân lực và về năng lực thực thi của bộ máy. Nếu làm được, Việt Nam không chỉ rút ngắn khoảng cách với các nước đi trước mà còn khẳng định được vị thế và bản lĩnh của một quốc gia đang vươn lên mạnh mẽ trong trật tự thế giới mới.

Dự thảo văn kiện cũng nêu mục tiêu rất cụ thể: giai đoạn 2026-2030 phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên, GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD. Theo ông, Việt Nam đã hội tụ đủ tiền đề để hiện thực hóa các mục tiêu này hay chưa?
Trong bối cảnh đất nước mở rộng không gian phát triển, đồng thời Bộ Chính trị ban hành nhiều nghị quyết trụ cột và Quốc hội thông qua hàng loạt luật, chính sách quan trọng, tôi cho rằng Việt Nam đang hội tụ những tiền đề phát triển rất thuận lợi, thậm chí có thể nói là hiếm có trong nhiều thập niên qua.
Chúng ta có không gian phát triển mới rộng mở hơn, có khung khổ thể chế ngày càng hoàn thiện, có lực lượng lao động trẻ, năng động, có cộng đồng doanh nghiệp ngày càng trưởng thành và có khát vọng vươn lên mạnh mẽ. Tuy nhiên, lịch sử phát triển của nhiều quốc gia cho thấy, thời cơ lớn luôn đi kèm thách thức lớn và không phải quốc gia nào có thời cơ cũng biến được thời cơ thành bước ngoặt.
Yếu tố quyết định nằm ở năng lực tổ chức thực hiện, ở kỷ luật, kỷ cương của bộ máy và ở bản lĩnh dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Nếu không vượt qua được điểm nghẽn này, mọi mục tiêu dù đúng đắn đến đâu cũng sẽ bị bào mòn trong thực tiễn. Nhưng nếu vượt qua được, giai đoạn 2026-2030 sẽ không chỉ là giai đoạn tăng trưởng cao, mà sẽ trở thành dấu mốc lịch sử đưa Việt Nam bước sang một tầm phát triển mới.
Nói cách khác, đây là thời điểm mà đất nước không được phép do dự, không được phép chậm trễ và càng không được phép tự bằng lòng. Hoặc chúng ta bứt phá để vươn lên, hoặc sẽ lỡ nhịp trong cuộc cạnh tranh toàn cầu đang diễn ra ngày càng quyết liệt.

Ảnh: Hoàng Hà
Để đạt được các mục tiêu phát triển lớn nêu trên, theo ông, Chính phủ cần đổi mới như thế nào trong chỉ đạo, điều hành, các địa phương cần hành động ra sao và cộng đồng doanh nghiệp cần tham gia, đóng góp bằng những nỗ lực cụ thể nào trong sản xuất, kinh doanh?
Để hiện thực hóa các mục tiêu phát triển lớn, theo tôi, cần sự vào cuộc đồng bộ, mạnh mẽ và có kỷ luật của cả hệ thống chính trị, của các địa phương và của cộng đồng doanh nghiệp.
Chính phủ phải thực sự là Chính phủ kiến tạo phát triển, hành động quyết liệt, nói đi đôi với làm, lấy hiệu quả thực chất làm thước đo cao nhất. Mỗi chủ trương, chính sách ban hành phải được tổ chức thực hiện nghiêm túc, được lượng hóa bằng kết quả cụ thể và được kiểm chứng bằng niềm tin của người dân, doanh nghiệp.
Các địa phương, nhất là các địa phương sau sắp xếp, phải mạnh dạn thoát khỏi tư duy cũ, tái định vị vai trò của mình trong không gian phát triển mới. Phát triển địa phương không còn là phát triển khép kín trong phạm vi địa giới hành chính, mà phải gắn với liên kết vùng, với chuỗi giá trị và với chiến lược phát triển chung của quốc gia.
Cộng đồng doanh nghiệp cần được xác lập đúng vị trí là trung tâm của tăng trưởng và đổi mới sáng tạo. Khi doanh nghiệp được tin tưởng, được bảo vệ và được khuyến khích đầu tư dài hạn, sức sống của nền kinh tế sẽ được nhân lên nhiều lần.
Có thể nói một cách dứt khoát rằng: Nếu Chính phủ không quyết liệt, địa phương không đổi mới và doanh nghiệp không bứt phá thì mọi mục tiêu phát triển sẽ chỉ dừng lại trên giấy. Nhưng khi cả 3 trụ cột này cùng chuyển động mạnh mẽ, đất nước sẽ tạo ra sức bật đủ lớn để chuyển hóa khát vọng thành hiện thực.

Dự thảo văn kiện trình Đại hội 14 kèm theo dự thảo Chương trình hành động, trong đó nhấn mạnh yêu cầu “xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính”. Dưới góc nhìn của một đại biểu Quốc hội, một người nhiều năm làm lãnh đạo tỉnh, thấu hiểu câu chuyện của địa phương, ông có thể phân tích rõ hơn ý nghĩa của nhiệm vụ này?
Yêu cầu xác lập mô hình tăng trưởng mới, lấy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính, theo tôi, là nhiệm vụ có ý nghĩa quyết định đối với tương lai phát triển của đất nước.
Mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào vốn, tài nguyên và lao động giá rẻ đã đóng góp quan trọng trong giai đoạn trước nhưng đang dần bộc lộ những giới hạn rõ rệt. Nếu không chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, tri thức và đổi mới sáng tạo, Việt Nam sẽ rất khó vượt qua bẫy thu nhập trung bình và càng khó rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển.
Điều quan trọng là phải biến chủ trương đúng đắn này thành những thay đổi rất cụ thể trong cách làm chính sách, trong phân bổ nguồn lực và trong đánh giá cán bộ. Khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo chỉ thực sự trở thành động lực khi được đặt đúng vị trí trung tâm của chiến lược phát triển, được bảo đảm bằng một thể chế minh bạch, ổn định và khuyến khích sáng tạo.
Nếu làm được điều đó, Việt Nam sẽ không chỉ tăng trưởng nhanh hơn trong một vài năm mà còn tạo dựng được nền tảng phát triển bền vững, đủ sức chống chịu trước các cú sốc bên ngoài và đủ nội lực để bứt phá trong chặng đường dài hướng tới năm 2045.
Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: “Hướng tới tương lai, Đảng đặt mục tiêu đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước, Việt Nam là quốc gia hùng cường, thịnh vượng, hạnh phúc. Đó là khát vọng của cả dân tộc, là lời thề danh dự trước lịch sử, trước nhân dân”. Theo ông, Đại hội 14 có ý nghĩa như thế nào trong việc hiện thực hóa khát vọng của cả dân tộc và lời thề danh dự đó?
Tôi cho rằng Đại hội 14 mang ý nghĩa bản lề lịch sử đặc biệt trong hành trình hướng tới mục tiêu kỷ niệm 100 năm thành lập nước. “Lời thề danh dự trước lịch sử và nhân dân” mà Tổng Bí thư nhấn mạnh không chỉ là một thông điệp chính trị mà là cam kết trách nhiệm cao nhất của Đảng đối với vận mệnh dân tộc.
Đại hội 14 phải là Đại hội chuyển hóa khát vọng thành hành động, chuyển cam kết chính trị thành kết quả cụ thể, chuyển ý chí của Đảng thành những đổi thay thực chất trong đời sống nhân dân. Thành công của Đại hội không chỉ được đo bằng những trang văn kiện được thông qua mà quan trọng hơn là bằng niềm tin xã hội được củng cố, bằng ý chí tự cường dân tộc được khơi dậy và bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc được phát huy.
Và ở thời khắc lịch sử này, thông điệp lớn nhất mà Đại hội 14 cần gửi tới toàn Đảng, toàn dân và toàn quân chính là một lời khẳng định dứt khoát: Việt Nam không lựa chọn con đường phát triển dễ dàng, mà lựa chọn con đường phát triển bền bỉ bằng trí tuệ, bản lĩnh và khát vọng vươn lên của cả dân tộc. Mỗi quyết định hôm nay sẽ định hình diện mạo đất nước trong nhiều thập niên tới, mỗi hành động hôm nay là câu trả lời trực tiếp trước lịch sử và nhân dân. Khi khát vọng trở thành hành động, khi lời thề danh dự được hiện thực hóa bằng những kết quả cụ thể thì mục tiêu xây dựng một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng và hạnh phúc vào năm 2045 nhất định sẽ trở thành hiện thực.
Thiết kế: Minh Hoà

Từ 2025 sang 2026: Thế cờ vững chãi cho những nước đi bứt phá

Cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy là thành tựu đột phá, thể hiện tinh thần 6 dám

Những thay đổi nhân sự lãnh đạo bộ, ngành trước Đại hội 14